Category Archives: Xứ Dừa Bến Tre

Xứ Dừa Bến Tre

Mua Gì Khi Đến Bến Tre? – Sản Phẩm 6: Bộ Bình Trà Trái Dừa Không Sơn (Bình Trà 850 – 1000ml)

vo-binh-tra-trai-dua-khong-son-binh-tra-850-1000ml-mau-xam

Chào bạn!. Có phải bạn đang tìm bộ bình trà trái dừa không sơn: Bền – Đẹp – Độc – Lạ, đủ cỡ, đủ loại, mẫu mã đa dạng, giá cả hợp lý, … giống xưa như ở quê mình không?.

Hãy cùng tham khảo vỏ giữ ấm bộ bình trà trái dừa không sơn (Bình trà: 900 – 1000ml) tại Quà Quê Dừa nhé!

Tên loạibộ bình trà trái dừa không sơnBộ bình trà trái dừa không sơn (Bình trà 850 – 1000ml(
Mã sản phẩm XO-B40SONBONG
Chất liệuTrái dừa tự nhiên, thân tiện với môi trường, an toàn khi sử dụng
Nhà sản xuấtQuà Quê Dừa
Xuất xứViệt Nam
Thời gian giữ ấm4 – 6 giờ
Công dụngGiữ ấm bình trà, nước đậu, trà xanh, …
Hoa văn trên thân vỏSơn bóng màu nâu đỏ
Dung tích bình trà (ấm tích)850 – 1000 ml
Trọn bộ gồm:Vỏ bình và bình trà & Bình trà tương ứng

Vỏ giữ ấm bình trà trái dừa không sơn:

tron-bo-binh-tra-trai-dua-khong-son-binh-tra-700-1000ml-xam - bộ bình trà trái dừa không sơn

– Quà Quê Dừa có xưởng sản xuất sản phẩm, vỏ giữ ấm bình trà trái dừa không sơn đã được nhiều khách hàng tin tưởng, đánh giá cao về chất lượng sản phẩm trong thời gian qua.

– Nguồn phôi: Chúng tôi đã tuyển chọn phôi rất kỹ từ nguồn nguyên liệu phong phú của xứ dừa Bến Tre. Mỗi trái dừa đều có hình dáng tự nhiên khác nhau đã tạo ra những vỏ bình trà trái dừa dừa khác nhau nên bạn có thể yên tâm nhé việc đụng hàng rất hiếm xảy ra.

– Đặc biệt, vỏ giữ ấm bình trà làm từ trái dừa chúng tôi gia công thủ công rất kỹ. Còn một phần gáo dừa bên trong và trên nắp nhằm giữ liên kết hạn chế cong vênh trong quá trình sử dụng. Bên cạnh đó sản phẩm không gia công thủng đáy nhằm giữ nguyên kết cấu của trái dừa.

vo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khong-lam-thung-day - bộ bình trà trái dừa không sơn

– Với kinh nghiệm trong quá trình sản xuất; thợ lành nghề; chạm khắc chuyên nghiệp; có họa sĩ thiết kế; kết hợp với máy móc hiện đại đã tạo ra những sản phẩm bền – đẹp – độc – lạ – mẫu mã đa dạng – không sản phẩm nào giống sản phẩm nào.

– Chúng tôi nói không với việc sản xuất ẩu tả, lắp ghép, đạo mẫu của người khác.

– Một lần nữa Quà Quê Dừa nói không với các sản phẩm bán đại trà trên thị trường.

Nhiệt tình tư vấn cho khách có nhu cầu mua vỏ bình trà trái dừa hay bộ bình trà gỗ dừa:

binh-tra-dep-qua-que-dua-danh-gia-kh - bộ bình trà trái dừa không sơn

– Nếu bạn còn do dự chưa biết chọn sản phẩm bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa. Những đặc tính của sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mình hoặc bạn mua làm quà tặng!.

– Đừng do dự

– Hãy điện thoại trực tiếp: 0913.209587 – 0813.209587

– Zalo hoặc facebook qua số: 0913.209587

– Thỉnh thoảng máy bận, bạn đừng ngại để lại tin nhắn. Chúng tôi sẽ liên hệ lại.

Mẫu mã bình trà trái dừa không sơn, nhận gia công theo mẫu thiết kế của bạn:

bo-doi-vo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khong-son-mau-xam-bv - bộ bình trà trái dừa không sơn

– Bạn đang lo mua phải những sản phẩm bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa bán nhiều trên thị trường, thiếu đi nét độc đáo riêng!.

– Bạn hoàn toàn an tâm, Quà Quê Dừa luôn cập nhật những vỏ giữ ấm bình trà trái dừa với nhiều mẫu mới đẹp, độc, lạ, … Đảm bảo không đụng hàng.

Ngoài ra, chúng tôi có nhận gia công theo mẫu thiết kế riêng của bạn: Bạn được chọn phôi theo ý mình (Qua hình ảnh, video hoặc đến xưởng).

bo-binh-tra-trai-dua-kinh-bieu - bộ bình trà trái dừa không sơn

Chúng tôi gia công lên sản phẩm những mẫu thiết kế riêng theo yêu cầu của bạn và cam kết không thương mại mẫu thiết kế của bạn.

Từ đó bạn có những sản phẩm độc đáo cho riêng mình.

Bình trà trái dừa không sơn bóng – Hàng luôn có sẵn, giá cả hợp lý:

via GIPHY

– Hàng đăng lên trang https://quaquedua.vn thì chắc chắn có hàng.

– Với tôn chỉ “Chất lượng khẳng định uy tín!”. Quà Quê Dừa muốn trao giá trị sử dụng của sản phẩm lớn hơn giá trị mà khách hàng đã bỏ ra – Quà Quê Dừa khẳng định điều đó.

Giao hàng nhanh chóng:

vo-binh-tra-trai-dua-co-son-va-khong-son-vai-xam-bv - bộ bình trà trái dừa không sơn

Để sản phẩm đến tay khách hàng nhanh chóng, Shop Quà Quê Dừa đã ký hợp đồng nguyên tắc với nhiều đơn vị vận chuyển chuyên nghiệp như:  Bưu điện Việt Nam (VNPost), Vietel (Vietel Post), Giao hàng Tiết kiệm (GHTK), Giao hàng Nhanh (GHN), …

Bên cạnh đó, Quà Quê Dừa giao hàng theo chỉ định nhà vận chuyển của khách hàng.

bo-binh-tra-dep-qua-que-dua-danh-gia-kh - bình trà trái dừa không sơn

Chi tiết bộ bình trà trái dừa có sơn bóng >>>

BBT Quà Quê Dừa

Mua Gì Khi Đến Bến Tre? – Sản Phẩm 5: Vỏ Giữ Ấm Bình Trà Trái Dừa Có Sơn Bóng (Bình Trà 850 – 1000ml)

bo-binh-tra-trai-dua-son-bong-mau-nau-binh-tra-850-1000ml

Chào bạn!. Có phải bạn đang tìm vỏ giữ ấm bình trà trái dừa: Bền – Đẹp – Độc – Lạ, đủ cỡ, đủ loại, mẫu mã đa dạng, giá cả hợp lý, … giống xưa như ở quê mình không?.

Hãy cùng tham khảo vỏ giữ ấm bình trà trái dừa có sơn bóng (Bình trà: 900 – 1000ml) tại Quà Quê Dừa nhé!

Tên loạiVỏ giữ ấm bình trà trái dừa có sơn bóng – Bình trà 850 – 1000ml
Mã sản phẩm XO-B40SONBONG
Chất liệuTrái dừa tự nhiên, thân tiện với môi trường, an toàn khi sử dụng
Nhà sản xuấtQuà Quê Dừa
Xuất xứViệt Nam
Thời gian giữ ấm4 – 6 giờ
Công dụngGiữ ấm bình trà, nước đậu, trà xanh, …
Hoa văn trên thân vỏSơn bóng màu nâu đỏ
Dung tích bình trà (ấm tích)850 – 1000 ml
Trọn bộ gồm:Vỏ bình và bình trà & Bình trà tương ứng

Vỏ giữ ấm bình trà trái dừa có sơn bóng hoặc không sơn:

vo-binh-tra-trai-dua-son-bong-mau-nau-binh-tra-850-1000ml - bình trà trái dừa có sơn bóng

– Quà Quê Dừa có xưởng sản xuất sản phẩm, vỏ giữ ấm bình trà trái dừa đã được nhiều khách hàng tin tưởng, đánh giá cao về chất lượng sản phẩm trong thời gian qua.

– Nguồn phôi: Chúng tôi đã tuyển chọn phôi rất kỹ từ nguồn nguyên liệu phong phú của xứ dừa Bến Tre. Mỗi trái dừa đều có hình dáng tự nhiên khác nhau đã tạo ra những vỏ bình trà trái dừa dừa khác nhau nên bạn có thể yên tâm nhé việc đụng hàng rất hiếm xảy ra.

– Đặc biệt, vỏ giữ ấm bình trà làm từ trái dừa chúng tôi gia công thủ công rất kỹ. Còn một phần gáo dừa bên trong và trên nắp nhằm giữ liên kết hạn chế cong vênh trong quá trình sử dụng. Bên cạnh đó sản phẩm không gia công thủng đáy nhằm giữ nguyên kết cấu của trái dừa.

vo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khong-lam-thung-day - bình trà trái dừa có sơn bóng

– Với kinh nghiệm trong quá trình sản xuất; thợ lành nghề; chạm khắc chuyên nghiệp; có họa sĩ thiết kế; kết hợp với máy móc hiện đại đã tạo ra những sản phẩm bền – đẹp – độc – lạ – mẫu mã đa dạng – không sản phẩm nào giống sản phẩm nào.

– Chúng tôi nói không với việc sản xuất ẩu tả, lắp ghép, đạo mẫu của người khác.

– Một lần nữa Quà Quê Dừa nói không với các sản phẩm bán đại trà trên thị trường.

Nhiệt tình tư vấn cho khách có nhu cầu mua vỏ bình trà trái dừa hay bộ bình trà gỗ dừa:

vo-binh-tra-trai-dua-son-bong-mau-nau-do-bv - bình trà trái dừa có sơn bóng

– Nếu bạn còn do dự chưa biết chọn sản phẩm bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa. Những đặc tính của sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mình hoặc bạn mua làm quà tặng!.

– Đừng do dự

– Hãy điện thoại trực tiếp: 0913.209587 – 0813.209587

– Zalo hoặc facebook qua số: 0913.209587

– Thỉnh thoảng máy bận, bạn đừng ngại để lại tin nhắn. Chúng tôi sẽ liên hệ lại.

Mẫu mã bình trà trái dừa có sơn bóng đa dạng, nhận gia công theo mẫu thiết kế của bạn:

bo-doi-binh-tra-trai-dua-son-bong-mau-nau-do-bv - bình trà trái dừa có sơn bóng

– Bạn đang lo mua phải những sản phẩm bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa bán nhiều trên thị trường, thiếu đi nét độc đáo riêng!.

– Bạn hoàn toàn an tâm, Quà Quê Dừa luôn cập nhật những vỏ giữ ấm bình trà trái dừa với nhiều mẫu mới đẹp, độc, lạ, … Đảm bảo không đụng hàng.

Ngoài ra, chúng tôi có nhận gia công theo mẫu thiết kế riêng của bạn: Bạn được chọn phôi theo ý mình (Qua hình ảnh, video hoặc đến xưởng).

bo-binh-tra-trai-dua-kinh-bieu - bình trà trái dừa có sơn bóng

Chúng tôi gia công lên sản phẩm những mẫu thiết kế riêng theo yêu cầu của bạn và cam kết không thương mại mẫu thiết kế của bạn.

Từ đó bạn có những sản phẩm độc đáo cho riêng mình.

Bình trà trái dừa có sơn bóng – Hàng luôn có sẵn, giá cả hợp lý:

via GIPHY

– Hàng đăng lên trang https://quaquedua.vn thì chắc chắn có hàng.

– Với tôn chỉ “Chất lượng khẳng định uy tín!”. Quà Quê Dừa muốn trao giá trị sử dụng của sản phẩm lớn hơn giá trị mà khách hàng đã bỏ ra – Quà Quê Dừa khẳng định điều đó.

Giao hàng nhanh chóng:

bo-binh-tra-trai-dua-len-phim-vtv1 - bình trà trái dừa có sơn bóng

Để sản phẩm đến tay khách hàng nhanh chóng, Shop Quà Quê Dừa đã ký hợp đồng nguyên tắc với nhiều đơn vị vận chuyển chuyên nghiệp như:  Bưu điện Việt Nam (VNPost), Vietel (Vietel Post), Giao hàng Tiết kiệm (GHTK), Giao hàng Nhanh (GHN), …

Bên cạnh đó, Quà Quê Dừa giao hàng theo chỉ định nhà vận chuyển của khách hàng.

Chi tiết bộ bình trà trái dừa có sơn bóng >>>

BBT Quà Quê Dừa

Mua Gì Khi Đến Bến Tre? – Sản Phẩm 4: Bộ Bình Trà Trái Dừa Hình Đức Mẹ (Bình Trà 450 – 1000ml)

bo-binh-tra-trai-dua-khac-duc-me-binh-tra-450-1000ml-mau-xam

Chào bạn!. Có phải bạn đang tìm Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ với tiêu chí: Bền – Đẹp – Độc – Lạ, đủ cỡ, đủ loại, mẫu mã đa dạng, giá cả hợp lý, … giống xưa như ở quê mình không?.

Hãy cùng tham khảo bộ bình trà trái dừa hình “Đức mẹ” độc đáo (Bình Trà 450 – 1.000ml) tại Quà Quê Dừa nhé. Đảm bảo bạn sẽ thích!

Thông tin chi tiết:

Tên loạiBộ Bình Trà Trái Dừa Hình Đức mẹ – Bình Trà 450 – 1.000ml
Mã sản phẩmXOK-B30DUCME
Nhà sản xuấtQuà Quê Dừa
Xuất xứViệt Nam
Thời gian giữ ấm4 – 6 giờ
Công dụngGiữ ấm bình trà, nước đậu, trà xanh, …
Hoa văn trên thân vỏĐức mẹ
Dung tích bình trà (ấm tích)450 – 1.000ml

Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ không đụng hàng:

bo-binh-tra-trai-dua-hinh-duc-me-qua-que-dua - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

– Quà Quê Dừa có xưởng sản xuất sản phẩm, bộ bình trà trái dừa đã được nhiều khách hàng tin tưởng, đánh giá cao về chất lượng sản phẩm trong thời gian qua.

– Nguồn phôi: Chúng tôi đã tuyển chọn phôi rất kỹ từ nguồn nguyên liệu phong phú của xứ dừa Bến Tre. Mỗi trái dừa đều có hình dáng tự nhiên khác nhau đã tạo ra những bộ bình trà bằng trái dừa khác nhau nên bạn có thể yên tâm nhé việc đụng hàng rất hiếm xảy ra.

– Với kinh nghiệm trong quá trình sản xuất; thợ lành nghề; chạm khắc chuyên nghiệp; có họa sĩ thiết kế; kết hợp với máy móc hiện đại đã tạo ra những sản phẩm bền – đẹp – độc – lạ – mẫu mã đa dạng – không sản phẩm nào giống sản phẩm nào.

– Chúng tôi nói không với việc sản xuất ẩu tả, lắp ghép, đạo mẫu của người khác.

– Một lần nữa Quà Quê Dừa nói không với các sản phẩm bán đại trà trên thị trường.

Nhiệt tình tư vấn cho khách có nhu cầu mua bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa:

bo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khac-duc-me-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

– Nếu bạn còn do dự chưa biết chọn sản phẩm bộ bình bình trà trái dừa hay gỗ dừa. Những đặc tính của sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mình hoặc bạn mua làm quà tặng!.

– Đừng do dự

– Hãy điện thoại trực tiếp: 0913.209587 – 0813.209587

– Zalo hoặc facebook qua số: 0913.209587

– Thỉnh thoảng máy bận, bạn đừng ngại để lại tin nhắn. Chúng tôi sẽ liên hệ lại.

Bộ bình trà trái dừa mẫu mã đa dạng, nhận gia công theo mẫu thiết kế của bạn:

– Bạn đang lo mua phải những sản phẩm bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa bán nhiều trên thị trường, thiếu đi nét độc đáo riêng!.

– Bạn hoàn toàn an tâm, Quà Quê Dừa luôn cập nhật những mẫu mới đẹp, độc, lạ, … Đảm bảo không đụng hàng.

– Ngoài ra, chúng tôi có nhận gia công theo mẫu thiết kế riêng của bạn: Bạn được chọn phôi theo ý mình (Qua hình ảnh, video hoặc đến xưởng).

– Chúng tôi gia công lên sản phẩm những mẫu thiết kế riêng theo yêu cầu của bạn và cam kết không thương mại mẫu thiết kế của bạn.

– Từ đó bạn có những sản phẩm độc đáo cho riêng mình.

vo-giu-am-binh-tra-dep-qua-que-dua-mau-gia-cong - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

 

Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ luôn có sẵn, giá cả hợp lý:

via GIPHY

– Hàng đăng lên trang https://quaquedua.vn thì chắc chắn có hàng.

– Với tôn chỉ “Chất lượng khẳng định uy tín!”. Chúng tôi muốn trao giá trị sử dụng của sản phẩm lớn hơn giá trị mà khách hàng đã bỏ ra – Quà Quê Dừa khẳng định điều đó.

Giao hàng nhanh chóng:

bo-giu-am-binh-tra-trai-dua-cnc-duc-me-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

Để sản phẩm đến tay khách hàng nhanh chóng, Shop Quà Quê Dừa đã ký hợp đồng nguyên tắc với nhiều đơn vị vận chuyển chuyên nghiệp như:  Bưu điện Việt Nam (VNPost), Vietel (Vietel Post), Giao hàng Tiết kiệm (GHTK), Giao hàng Nhanh (GHN), …

Bên cạnh đó, Quà Quê Dừa giao hàng theo chỉ định nhà vận chuyển của khách hàng.

Xem chi tiết bộ sản phẩm >>>

Ảnh bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ:

bo-binh-tra-trai-dua-hinh-duc-me-qua-que-dua - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

 

bo-giu-am-binh-tra-trai-dua-cnc-duc-me-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

bo-binh-tra-trai-dua-khac-duc-me-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

bo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khac-duc-me-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

binh-tra-dep-qua-que-dua-danh-gia-kh - Bộ bình trà trái dừa hình Đức mẹ

BBT Quà Quê Dừa

Mua Gì Khi Đến Bến Tre? – Sản Phẩm 3: Bộ Bình Trà Trái Dừa Hình Hoa Sen (Bình Trà 450 – 1000ml)

binh-u-tra-trai-dua-khac-hoa-sen-binh-tra-450-1000ml-mau-xam

Chào bạn!. Có phải bạn đang tìm Bộ bình trà trái dừa hình hoa sen với tiêu chí: Bền – Đẹp – Độc – Lạ, đủ cỡ, đủ loại, mẫu mã đa dạng, giá cả hợp lý, … giống xưa như ở quê mình không?.

Hãy cùng tham khảo bộ bình trà trái dừa hình “Hoa sen” độc đáo (Bình Trà 450 – 1.000ml) tại Quà Quê Dừa nhé. Đảm bảo bạn sẽ thích!

* Thông tin chi tiết:

Tên loạiBộ Bình Trà Trái Dừa Hình Hoa Sen – Bình Trà 450 – 1.000ml
Mã sản phẩmXOK-B30HOASEN
Nhà sản xuấtQuà Quê Dừa
Xuất xứViệt Nam
Thời gian giữ ấm4 – 6 giờ
Công dụngGiữ ấm bình trà, nước đậu, trà xanh, …
Hoa văn trên thân vỏHoa Sen
Dung tích bình trà (ấm tích)450 – 1.000ml

bo-binh-tra-trai-dua-hoa-sen-qua-que-dua - Bộ Bình Trà Trái Dừa Hình Hoa Sen, Đức Mẹ

Bộ bình trà trái dừa hình hoa sen không đụng hàng:

binh-u-tra-trai-dua-khac-hoa-sen-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - Bộ Bình Trà Trái Dừa Hình Hoa Sen, Đức Mẹ

– Quà Quê Dừa có xưởng sản xuất sản phẩm, bộ bình trà trái dừa đã được nhiều khách hàng tin tưởng, đánh giá cao về chất lượng sản phẩm trong thời gian qua.

– Nguồn phôi: Chúng tôi đã tuyển chọn phôi rất kỹ từ nguồn nguyên liệu phong phú của xứ dừa Bến Tre. Mỗi trái dừa đều có hình dáng tự nhiên khác nhau đã tạo ra những bộ bình trà bằng trái dừa khác nhau nên bạn có thể yên tâm nhé việc đụng hàng rất hiếm xảy ra.

– Với kinh nghiệm trong quá trình sản xuất; thợ lành nghề; chạm khắc chuyên nghiệp; có họa sĩ thiết kế; kết hợp với máy móc hiện đại đã tạo ra những sản phẩm bền – đẹp – độc – lạ – mẫu mã đa dạng – không sản phẩm nào giống sản phẩm nào.

– Chúng tôi nói không với việc sản xuất ẩu tả, lắp ghép, đạo mẫu của người khác.

– Một lần nữa Quà Quê Dừa nói không với các sản phẩm bán đại trà trên thị trường.

Nhiệt tình tư vấn cho khách có nhu cầu mua bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa:

vo-binh-tra-trai-dua-cnc-hoa-sen-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - Bộ Bình Trà Trái Dừa Hình Hoa Sen, Đức Mẹ

 

 

– Nếu bạn còn do dự chưa biết chọn sản phẩm bộ bình bình trà trái dừa hay gỗ dừa. Những đặc tính của sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mình hoặc bạn mua làm quà tặng!.

– Đừng do dự

– Hãy điện thoại trực tiếp: 0913.209587 – 0813.209587

– Zalo hoặc facebook qua số: 0913.209587

– Thỉnh thoảng máy bận, bạn đừng ngại để lại tin nhắn. Chúng tôi sẽ liên hệ lại.

Bộ bình trà trái dừa mẫu mã đa dạng, nhận gia công theo mẫu thiết kế của bạn:

– Bạn đang lo mua phải những sản phẩm bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa bán nhiều trên thị trường, thiếu đi nét độc đáo riêng!.

– Bạn hoàn toàn an tâm, Quà Quê Dừa luôn cập nhật những mẫu mới đẹp, độc, lạ, … Đảm bảo không đụng hàng.

– Ngoài ra, chúng tôi có nhận gia công theo mẫu thiết kế riêng của bạn: Bạn được chọn phôi theo ý mình (Qua hình ảnh, video hoặc đến xưởng).

– Chúng tôi gia công lên sản phẩm những mẫu thiết kế riêng theo yêu cầu của bạn và cam kết không thương mại mẫu thiết kế của bạn.

– Từ đó bạn có những sản phẩm độc đáo cho riêng mình.

vo-giu-am-binh-tra-trai-dua-giao-bigmom-coffee - Bộ Bình Trà Trái Dừa Hình Hoa Sen, Đức Mẹ

 

Bộ Bình Trà Trái Dừa Hình Hoa Sen luôn có sẵn, giá cả hợp lý:

via GIPHY

– Hàng đăng lên trang https://quaquedua.vn thì chắc chắn có hàng.

– Với tôn chỉ “Chất lượng khẳng định uy tín!”. Chúng tôi muốn trao giá trị sử dụng của sản phẩm lớn hơn giá trị mà khách hàng đã bỏ ra – Quà Quê Dừa khẳng định điều đó.

Giao hàng nhanh chóng:

vo-bo-binh-tra-trai-dua-hoa-sen-qua-que-dua - Bộ Bình Trà Trái Dừa Hình Hoa Sen, Đức Mẹ

 

Để sản phẩm đến tay khách hàng nhanh chóng, Shop Quà Quê Dừa đã ký hợp đồng nguyên tắc với nhiều đơn vị vận chuyển chuyên nghiệp như:  Bưu điện Việt Nam (VNPost), Vietel (Vietel Post), Giao hàng Tiết kiệm (GHTK), Giao hàng Nhanh (GHN), …

Bên cạnh đó, Quà Quê Dừa giao hàng theo chỉ định nhà vận chuyển của khách hàng.

Xem chi tiết bộ sản phẩm >>>

Ảnh bộ bình trà trái dừa hình hoa sen:

bo-binh-tra-trai-dua-hoa-sen-qua-que-dua - bộ bình trà trái dừa hình hoa sen

 

bo-binh-tra-trai-dua-khac-hoa-sen-qua-que-dua - bộ bình trà trái dừa hình hoa sen

vo-binh-tra-trai-dua-khac-hoa-sen-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - bộ bình trà trái dừa hình hoa sen

vo-binh-tra-trai-dua-khac-duc-me-binh-tra-450-1000ml-mau-xam - bộ bình trà trái dừa hình hoa sen

BBT Quà Quê Dừa

 

 

 

 

Mua Gì Khi Đến Bến Tre? – Sản Phẩm 2: Trọn Bộ Bình Ủ Trà Trái Dừa Có Sơn Hoặc Không Sơn – Bình Trà 450 – 750ml

tron-bo-vo-binh-tra-trai-dua-khong-son-binh-tra-450-700-xam

Chào bạn!. Có phải bạn đang tìm bình ủ trà trái dừa có sơn với tiêu chí: Bền – Đẹp – Độc – Lạ, đủ cỡ, đủ loại, mẫu mã đa dạng, giá cả hợp lý, … giống xưa như ở quê mình không?.

Hãy cùng tham khảo bộ bình ủ trà trái dừa có sơn bóng hoặc không sơn – Bình trà 450 – 750ml tại Quà Quê Dừa nhé.

Tên loạiTrọn bộ bình ủ trà trái dừa có sơn bóng hoặc không sơn – Bình trà 450 – 750ml
Mã sản phẩmXoSB-BOB20, XoKS-BOB20
Chất liệuTrái dừa tự nhiên, thân tiện với môi trường, an toàn khi sử dụng
Nhà sản xuấtQuà Quê Dừa
Xuất xứViệt Nam
Thời gian giữ ấm4 – 6 giờ
Công dụngGiữ ấm bình nước trà, nước đậu, trà xanh, …
Hoa văn trên thân vỏSơn bóng màu nâu đỏ, hoặc không sơn (màu nguyên thủy của trái dừa)
Dung tích bình trà (ấm tích)450 – 750 ml
Trọn bộ gồm:– Vỏ giữ ấm bình trà trái dừa.– Bình trà 450 – 750ml.

– Bộ 6 tách uống trà.

Trọn bộ bình ủ trà trái dừa có sơn bóng hoặc không sơn:

bo-binh-tra-trai-dua-son-bong-mau-nau-do-bv - bình ủ trà trái dừa

– Quà Quê Dừa có xưởng sản xuất sản phẩm, bộ bình ủ trà trái dừa có sơn bóng hoặc không sơn đã được nhiều khách hàng tin tưởng, đánh giá cao về chất lượng sản phẩm trong thời gian qua.

– Nguồn phôi: Chúng tôi đã tuyển chọn phôi rất kỹ từ nguồn nguyên liệu phong phú của xứ dừa Bến Tre. Mỗi trái dừa đều có hình dáng tự nhiên khác nhau đã tạo ra những bình ủ trà trái dừa có sơn bóng hoặc không sơn khác nhau nên bạn có thể yên tâm nhé việc đụng hàng rất hiếm xảy ra.

– Đặc biệt, vỏ giữ ấm bình trà làm từ trái dừa chúng tôi gia công thủ công rất kỹ. Còn một phần gáo dừa bên trong và trên nắp nhằm giữ liên kết hạn chế cong vênh trong quá trình sử dụng. Bên cạnh đó sản phẩm không gia công thủng đáy nhằm giữ nguyên kết cấu của trái dừa.

vo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khong-lam-thung-day - bình ủ trà trái dừa

– Với kinh nghiệm trong quá trình sản xuất; thợ lành nghề; chạm khắc chuyên nghiệp; có họa sĩ thiết kế; kết hợp với máy móc hiện đại đã tạo ra những sản phẩm bền – đẹp – độc – lạ – mẫu mã đa dạng – không sản phẩm nào giống sản phẩm nào.

– Chúng tôi nói không với việc sản xuất ẩu tả, lắp ghép, đạo mẫu của người khác.

– Một lần nữa Quà Quê Dừa nói không với các sản phẩm bán đại trà trên thị trường.

Nhiệt tình tư vấn cho khách có nhu cầu mua bộ bình ủ trà trái dừa có sơn bóng hoặc không sơn:

bo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khong-son-mau-xam-bv - bình ủ trà trái dừa

– Nếu bạn còn do dự chưa biết chọn sản phẩm vỏ giữ ấm bình trà hay bình giữ ấm trà bằng gỗ dừa. Những đặc tính của sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mình hoặc bạn mua làm quà tặng!.

– Đừng do dự:

– Hãy điện thoại trực tiếp: 0913.209587 – 0813.209587

– Zalo hoặc facebook qua số: 0913.209587

– Thỉnh thoảng máy bận, bạn đừng ngại để lại tin nhắn. Chúng tôi sẽ liên hệ lại.

Mẫu mã đa dạng, nhận gia công theo mẫu thiết kế của bạn:

tron-bo-binh-tra-trai-dua-dep-mau-xam-bv - bình ủ trà trái dừa

– Bạn đang lo mua phải những sản phẩm vỏ bình trà trái dừa hay gỗ dừa bán nhiều trên thị trường, thiếu đi nét độc đáo riêng!.

– Bạn hoàn toàn an tâm, Quà Quê Dừa luôn cập nhật những bộ bình trà với nhiều mẫu mới đẹp, độc, lạ, … Đảm bảo không đụng hàng.

Ngoài ra, chúng tôi có nhận gia công theo mẫu thiết kế riêng của bạn: Bạn được chọn phôi theo ý mình (Qua hình ảnh, video hoặc đến xưởng).

– Chúng tôi gia công lên sản phẩm những mẫu thiết kế riêng theo yêu cầu của bạn và cam kết không thương mại mẫu thiết kế của bạn.

Từ đó bạn có những sản phẩm độc đáo cho riêng mình.

Bình ủ trà trái dừa có sơn bóng hoặc không sơn:

binh-tra-trai-dua-son-bong-mau-nau-do-bv - bình ủ trà trái dừa

tron-bo-binh-tra-trai-dua-dep-bv - bình ủ trà trái dừa

 

Bình ủ trà trái dừa – Hàng luôn có sẵn, giá cả hợp lý:

via GIPHY

– Hàng đăng lên trang https://quaquedua.vn thì chắc chắn có hàng.

– Với tôn chỉ “Chất lượng khẳng định uy tín!”. Quà Quê Dừa muốn trao giá trị sử dụng của sản phẩm lớn hơn giá trị mà khách hàng đã bỏ ra – Quà Quê Dừa khẳng định điều đó.

Giao hàng nhanh chóng:

bo-binh-tra-trai-dua-len-phim-vtv3 - bình ủ trà trái dừa

Để sản phẩm đến tay khách hàng nhanh chóng, Shop Quà Quê Dừa đã ký hợp đồng nguyên tắc với nhiều đơn vị vận chuyển chuyên nghiệp như:  Bưu điện Việt Nam (VNPost), Vietel (Vietel Post), Giao hàng Tiết kiệm (GHTK), Giao hàng Nhanh (GHN), …

Đặt hàng ngay tại đây >>>

BBT Quà Quê Dừa

Mua Gì Khi Đến Bến Tre? – Sản Phẩm 1: Bộ Bình Trà Trái Dừa Cho 2 Đến 4 Người Dùng

vo-binh-tra-trai-dua-son-bong-mau-nau-do-binh-tra-450-700ml

Chào bạn!. Bạn có chuyến về thăm quê hương Đồng Khởi, bạn đang tìm món quà tặng ý nghĩa để tặng người thân. Hãy cùng Quà Quê Dừa tham khảo “Bộ Bình Trà Trái Dừa Cho 2 Đến 4 Người Dùng, Bình Trà 450 – 750ml chuyên cho các bác uống trà bắc” nhé!.

Thông tin chi tiết bộ bình trà làm từ trái dừa cho 2 đến 4 người dùng:

Tên loạiBộ Bình Trà Trái Dừa Cho 2 Đến 4 Người Dùng – Bình Trà 450 – 750ml (Có sơn bóng hoặc không sơn)
Mã sản phẩmXO-B30SB – XO-B30KS
Chất liệuTrái dừa tự nhiên, thân tiện với môi trường, an toàn khi sử dụng
Sản xuấtQuà Quê Dừa
Xuất xứViệt Nam
Thời gian giữ ấm tốt nhất4 – 6 giờ
Công dụngGiữ ấm bình nước trà, nước đậu, trà xanh, …
Hoa văn trên thân vỏSơn bóng màu nâu đỏ, không sơn (màu nguyên thủy của trái dừa)
Dung tích bình trà (ấm tích)450 – 750 ml
Trọn bộ gồm:– Vỏ bình và bình trà– Bình trà tương ứng

Vì sao nên chọn bộ giữ ấm bình trà trái dừa cho 2 đến 4 người dùng:

vo-va-binh-tra-trai-dua-son-bong-mau-nau-do-bv - Bộ bình trà trái dừa

– Quà Quê Dừa có xưởng sản xuất sản phẩm, bộ bình trà trái dừa đã được nhiều khách hàng tin tưởng, đánh giá cao về chất lượng sản phẩm trong thời gian qua.

– Nguồn phôi: Chúng tôi đã tuyển chọn phôi rất kỹ từ nguồn nguyên liệu phong phú của xứ dừa Bến Tre. Mỗi trái dừa đều có hình dáng tự nhiên khác nhau đã tạo ra những bộ bình trà bằng trái dừa khác nhau nên bạn có thể yên tâm nhé việc đụng hàng rất hiếm xảy ra.

– Đặc biệt, vỏ giữ ấm bình trà làm từ trái dừa chúng tôi gia công thủ công rất kỹ. Còn một phần gáo dừa bên trong và trên nắp nhằm giữ liên kết hạn chế cong vênh trong quá trình sử dụng.

vo-binh-tra-trai-dua-khong-son-binh-tra-450-700ml-mau-xam - Bộ bình trà trái dừa

Bên cạnh đó sản phẩm không gia công thủng đáy nhằm giữ nguyên kết cấu của trái dừa.

vo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khong-lam-thung-day - Bộ bình trà trái dừa

– Với kinh nghiệm trong quá trình sản xuất; thợ lành nghề; chạm khắc chuyên nghiệp; họa sĩ thiết kế; kết hợp với máy móc hiện đại đã tạo ra những sản phẩm bền – đẹp – độc – lạ – mẫu mã đa dạng – không sản phẩm nào giống sản phẩm nào.

– Chúng tôi nói không với việc sản xuất ẩu tả, lắp ghép, ….

– Một lần nữa Quà Quê Dừa nói không với các sản phẩm bán đại trà trên thị trường.

Nhiệt tình tư vấn cho khách có nhu cầu mua bộ bình trà trái dừa hay bộ bình trà gỗ dừa:

vo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khong-son-xam-bv - Bộ bình trà trái dừa

– Nếu bạn còn do dự chưa biết chọn sản phẩm bộ bình trà trái dừa hay bộ giữ ấm bình trà bằng gỗ dừa. Những đặc tính của sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mình hoặc bạn mua làm quà tặng!.

– Đừng do dự

– Hãy điện thoại trực tiếp: 0913.209587 – 0813.209587

– Zalo hoặc facebook qua số: 0913.209587

– Thỉnh thoảng máy bận, bạn đừng ngại để lại tin nhắn. Chúng tôi sẽ liên hệ lại.

Mẫu mã bộ bình trà trái dừa đa dạng, nhận gia công theo mẫu thiết kế của bạn:

vo-binh-tra-trai-dua-5-san-pham-mau-bv - Bộ bình trà trái dừa

– Bạn đang lo mua phải những sản phẩm bộ bình trà trái dừa hay gỗ dừa bán nhiều trên thị trường, thiếu đi nét độc đáo riêng!.

– Bạn hoàn toàn an tâm, Quà Quê Dừa luôn cập nhật những bộ bình trà với nhiều mẫu mới đẹp, độc, lạ, … Đảm bảo không đụng hàng.

Ngoài ra, chúng tôi có nhận gia công theo mẫu thiết kế riêng của bạn: Bạn được chọn phôi theo ý mình (Qua hình ảnh, video hoặc đến xưởng).

Bộ bình trà trái dừa cho 2 đến 4 người dùng -Bộ bình trà trái dừa

Chúng tôi gia công lên sản phẩm những mẫu thiết kế riêng theo yêu cầu của bạn và cam kết không thương mại mẫu thiết kế của bạn.

Từ đó bạn có những sản phẩm độc đáo cho riêng mình.

Bộ bình trà làm từ trái dừa cho 2 đến 4 người dùng có sơn và không sơn:

bo-binh-tra-dep-tu-trai-dua-son-bong-mau-nau-do-bv - Bộ bình trà trái dừa

vo-giu-am-binh-tra-trai-dua-khong-son-xam-bv - Bộ bình trà trái dừa

Hàng luôn có sẵn, giá cả hợp lý:

via GIPHY

– Hàng đăng lên trang https://quaquedua.vn thì chắc chắn có hàng.

– Với tôn chỉ “Chất lượng khẳng định uy tín!”. Quà Quê Dừa muốn trao giá trị sử dụng của sản phẩm lớn hơn giá trị mà khách hàng đã bỏ ra – Quà Quê Dừa khẳng định điều đó.

Giao hàng nhanh chóng:

vo-binh-tra-trai-dua-co-son-va-khong-son-vai-xam-bv - Bộ bình trà trái dừa

Để sản phẩm đến tay khách hàng nhanh chóng, Shop Quà Quê Dừa đã ký hợp đồng nguyên tắc với nhiều đơn vị vận chuyển chuyên nghiệp như:  Bưu điện Việt Nam (VNPost), Vietel (Vietel Post), Giao hàng Tiết kiệm (GHTK), Giao hàng Nhanh (GHN), …

Bên cạnh đó, Quà Quê Dừa giao hàng theo chỉ định nhà vận chuyển của khách hàng.

xem-chi-tiet-qua-que-dua

 

BBT Quà Quê Dừa

Mẹo Chọn Bộ Bình Trà Trái Dừa Bền Chắc Đẹp – Quà Quê Dừa

bo-binh-tra-trai-dua-hoa-mai

Bạn đang muốn tìm bộ bình trà trái dừa mẫu mã đa dạng, không đụng hàng, giá cả hợp lý, đủ cỡ, đủ loại, … giống hồi xưa ở quê mình không?.

Hãy cùng Quà Quê Dừa chọn “bộ bình trà” với tiêu chí Bền – Chắc – Đẹp nhé:

Sau đây là 4 lưu ý quan trọng nhất:

  • Phần nắp phải còn gáo.
  • Phần thân giữa phải còn gáo.
  • Giữa phần nắp và phần thân phải khít.
  • Không khoét thủng đáy.

Trên đây là 4 đặc điểm để chọn được bộ giữ ấm bình trà làm từ trái dừa để sử dụng hoặc làm món quà tặng người thân rất ý nghĩa.

BBT QQD

Xem thêm >>>

Hồ lô phong thủy và tác dụng ít người biết đến

ho-lo-phong-thuy-tot

Hồ lô nói riêng và Hồ lô phong thủy được coi là biểu tượng linh thiêng cho sức khỏe và sống trường thọ với con cháu

Hồ lô trong tự nhiên:

Bầu hồ lô là một thứ quả có hình dạng thật kỳ lạ, miệng nhỏ bụng lớn, tròn trịa đầy đặn, người xưa thường dùng làm đồ đựng nước, rượu, hoặc các linh đơn dược liệu để phục vụ cho những chuyến đi xa. Nhờ tác dụng này, dần dần, quả hồ lô được coi là biểu tượng linh thiêng của sức khỏe và trường thọ.

ho-lo-phong-thuy-qua-que-dua - Hồ lô phong thủy

Quả hồ lô non ăn ngon và ngọt, có tác dụng giải độc, mát gan, bổ dưỡng.

Không ai biết hồ lô bắt đầu được trồng từ bao giờ, nhưng cho đến nay, quả hồ lô đã trở nên quen thuộc với con người, không chỉ quen thuộc trong cái ăn thường ngày, mà còn cả trong văn hóa tinh thần.

Ý nghĩa tâm linh của hồ lô phong thủy:

Quả hồ lô đã dần dần thoát thai khỏi cái vỏ tự nhiên, được nhân cách hóa, thần bí hóa, gắn với vô vàn truyền thuyết, thần thoại.

Hồ lô miệng nhỏ bụng lớn, tượng trưng tài lộc đầy kho, chiêu tài nạp phúc. Nhưng công dụng nổi bật nhất của hồ lô chính là tiêu tai hóa bệnh.

ho-lo-phong-thuy-rong-phung - Hồ lô phong thủy

Sách phong thủy kinh điển “Tuyết tâm phú” viết: “Hồ lô sơn hiện, thuật số y lưu”. Ý chỉ, nơi nào có ngọn núi hình quả hồ lô, thì nơi ấy ắt có xuất hiện y sư hoặc thuật sĩ cao minh.

Từ xưa đến nay, những người làm nghề chữa bệnh, bốc quẻ, xem bói hoặc tướng số đều thích treo hồ lô trong nhà hoặc ở nơi làm việc của mình để mong sự nghiệp thuận lợi suôn sẻ.

Quả hồ lô thường dùng để đựng linh đơn diệu dược, là biểu tượng của an lành và sức khỏe. Ý là, nhà có người bệnh, chỉ cần treo trái hồ lô ở bên giường người bệnh, bệnh nặng sẽ giảm, bệnh nhẹ sẽ hết, tinh thần khoan khoái.

Ông Lý Thiết Quải, một trong bát tiên, thường hay mang theo hồ lô bên mình, ông thường dùng thuốc tiên trong quả hồ lô để chữa bệnh cho người nghèo khổ ốm đau.

Ông Thọ là một vị thần bất tử, thường mang theo mình trái đào tiên, nấm linh chi và quả hồ lô đựng nước trường sinh.

ho-lo-hinh-hoa-sen - Hồ lô phong thủy

Bởi vậy, hồ lô còn là một biểu tượng của sự trường sinh nữa. Đó là một món quà rất ý nghĩa để tặng người cao tuổi, như lời cầu chúc sức khỏe và trường thọ.

Phật giáo và Lão giáo đều rất xem trọng hồ lô, coi nó là biểu tượng của điềm lành:

Hồ lô được dùng làm bình đựng rượu tiên của nhiều vị Phật trong Phật giáo, lọ nhỏ đựng nước cam lộ của Quán Thế Âm Bồ Tát cũng thường có hình dạng giống hồ lô. Trong Lão giáo, hồ lô là pháp bảo trừ tà, hóa giải tà khí, bắt giữ những linh hồn xấu.

ho-lo-gia-dinh-chua - Hồ lô phong thủy

Vị trí đặt hồ lô mang lại mai mắn:

Nếu phía trên ban thờ, giường ngủ, bàn học, bàn làm việc, sô pha… có xà nhà, bố cục phong thủy như vậy rất không tốt, dễ khiến người ở luôn có cảm giác bị đè ép, tinh thần căng thẳng, khó chịu, dễ mất ngủ, gặp ác mộng.

Trong trường hợp đó, treo hồ lô trên xà nhà hoặc treo bên giường, ban thờ, đặt trên bàn làm việc hoặc bàn học để hóa giải sát khí.

Hiện nay, ngoài quả hồ lô thiên nhiên, còn có nhiều loại hồ lô được chế tác từ nhiều chất liệu khác nhau như gỗ, kim loại, ngọc, thủy tinh.

Người ta thường buộc một sợi dây đỏ quanh eo hồ lô. Với hồ lô thiên nhiên, người ta thường sơn màu vàng hoặc gắn thêm những đồng xu đặc biệt để thu hút tài vận.

Một số đạo sĩ có thể viết thêm các câu thần chú hoặc vẽ hình bát quái lên hồ lô để tăng khả năng trừ tà hóa sát của nó.

Ngoài các công dụng trên, hồ lô còn có thể dùng để cầu mong đường con cái. Hồ lô mọc thành giàn, sai trĩu quả, ruột bầu nhiều hạt, tượng trưng cho con cháu đầy đàn.

Trong nhiều truyền thuyết, thần thoại của nhiều địa phương có nhiều câu chuyện với một con người được sinh ra từ quả bầu tiên.

ho-lo-khac-thoi-ke - Hồ lô phong thủy

* Ý nghĩa tình duyên:

Không những vậy, hồ lô phong thủy vốn là một loại bầu có hoa tự thụ phấn, do vậy nó còn được xem là biểu tượng của sự hài hòa âm dương, tình yêu đôi lứa.

Trong nhà, nếu vợ chồng bạc duyên, có thể treo hồ lô đồng ở đầu giường, những mong nối lại sợi dây tình cảm giữa vợ chồng, vừa có thể mong tình yêu thăng hoa kết trái.

Lời kết:

Quả hồ lô vừa giản dị, gần gũi lại vừa linh thiêng, vừa là một công cụ đắc lực trong cuộc sống thường nhật, lại vừa là biểu tượng tâm linh trong tâm thức mỗi người.

Chính vì thế, trong văn hóa phương Đông, hình tượng quả hồ lô vẫn luôn có một sức sống bền bỉ, dai dẳng, suốt hàng ngàn năm qua, gửi gắm ước vọng của con người về một cuộc sống giản dị, bình an, ấm êm, hạnh phúc.

Nguồn: https://baodatviet.vn/bat-dong-san/khong-gian-song/ho-lo-phong-thuy-va-tac-dung-it-biet-3309075/

Chi tiết sản phẩm >>>

 

Xem thêm sản phẩm tại:

lazada-logo

shopee-logo

sen-do-logo

Độc Đáo: Làm Dừa Trang Trí (Dừa Bonsai) Độc Lạ Giá Hơn Triệu Đồng Một Chậu

bonsai-dua-nhieu-mau-qua-que-dua

Xuất phát từ đam mê:

Với niềm đam mê cây kiểng từ nhỏ, lại lớn lên ở xứ dừa, anh Chí luôn muốn tìm tòi nghiên cứu để tạo ra sản phẩm dừa trang trí riêng từ chính loại cây đặc sản của quê hương. Từ những trái dừa mọc mầm được nhiều nhà vườn ở Bến Tre bỏ đi vì giá quá rẻ, ý tưởng khởi nghiệp đã được 9X này nhen nhóm.

dua-kieng-nhieu-mau-qua-que-dua - dừa trang trí nhiều mẫu

Xem thêm >>

Tự mài mò nghiên cứu ra sản phẩm dừa trang trí:

Anh Chí chia sẻ: “Hơn 1 năm nay giá dừa rất rẻ, trái dừa rụng rồi mọc khắp nơi, thấy vậy tôi mới đem về trồng thử. Lúc đầu, tôi cũng đi xin vòng vòng trong xóm những trái dừa người ta bỏ để đem về trồng. Thời điểm này chưa có ai biết về cây dừa bonsai này hết và cũng không ai nghĩ là sẽ trồng được trái dừa bonsai”.

Nói về giai đoạn mới bắt đầu, theo anh Chí, mọi thứ ban đầu không hề dễ dàng, cứ làm chục trái thì 7-8 trái bị chết. Bởi tiền thân của dừa bonsai chính là những quả dừa khô đã mọc mầm vì thế tất cả các công đoạn từ tách vỏ, tạo dáng cho đến khi vào chậu cũng vô cùng khó khăn.

dua-trang-tri-nhieu-mau-qua-que-dua - dừa trang trí nhiều mẫu

Dừa trang trí hoa văn chữ Lộc

“Khó nhất có lẽ là khâu lột vỏ dừa để làm sao rễ dừa không bị hư, thân dừa không bị gẫy và phần gáo dừa phải luôn nhẵng bóng, có vậy thì dừa bonsai mới được xem là đạt. Trong khoảng 7-8 tháng đầu tôi làm chết khoảng 90% cây dừa” – anh Chí bộc bạch.

Theo đó, tiêu chí của dừa bonsai là trái dừa phải còn nguyên và dính với thân; rễ phải cơi lên cao để không bị ẩm thấp, gáo không bị mục để có thể chơi lâu hơn; lá đều, thanh mãnh phù hợp cho những chậu bonsai để bàn.

Để hoàn thành một chậu dừa bonsai, thông thường Chí phải mất khoảng 6 tháng. Nhìn thì đơn giản nhưng tỉ lệ để cây có thể sống được lại khá thấp. Đặc thù khi mầm dừa hút hết dưỡng chất trong trái dừa thì bộ rễ phải tự đi kiếm chất dinh dưỡng bên ngoài để nuôi sống thân. Vì thế khi cho vào chậu, việc chọn đất để mầm dừa bám rễ cũng phải được chú ý.

dua-bonsai-dep-qua-que-dua - dừa trang trí

Cũng giống như các loại bonsai khác, bonsai dừa cũng là cây con trồng trong chậu. Một cây dừa bonsai được coi là đẹp là phải có trái tròn nhỏ, rễ phải to cứng, thế cây lạ lá xanh nhỏ gọn.

Thành công ngoài mong đợi:

Anh Chí chia sẻ: “Cái khó là do dừa vốn tự nhiên nên không thể uốn kẽm hay ghép tháp được, nên tôi đã tạo dáng theo thế tự nhiên của dừa. Tôi sắp xếp các rễ cho phù hợp, đến khoảng hơn 1 tháng thì bắt đầu cơi rễ cao lên một lần để gáo dừa không bị ẩm, mục. Khi cây đạt được thế, dáng như mong muốn thì sẽ bắt đầu chà nhám để phần gáo dừa có độ bóng đẹp”.

Những trái dừa thô kệch tưởng chừng như bỏ đi, 9X này đã khoát lên mình chiếc áo mới. Với giá thành từ vài trăm ngàn cho đến hơn 1 triệu mỗi cây nhưng dừa bonsai rất dễ chăm sóc và có thể chơi được rất lâu.

xem-chi-tiet-qua-que-dua

 

 

 

 

Nguồn: https://www.24h.com.vn/Ảnh: QQD

Trang sử hình thành và phát triển vùng đất Bến Tre

Khám phá quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Bến Tre

Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867):

Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai – Bến Nghé – Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn sử liệu có được, cộng với những sách của nước ngoài viết về vùng Đông Nam Á, chúng ta cũng có thể xác định được thời điểm người Việt có mặt sớm nhất ở đây. Phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử, gần như thống nhất ý kiến rằng vào đầu thế kỷ XVII đã có những người Việt từ miền ngoài vào khai thác đất đai và định cư rải rác ở nhiều nơi trên vùng đất mà ngày nay gọi là Nam Bộ (1). Trong khoảng thời gian trên dưới 300 năm, cuộc thiên di của người Việt đến vùng đất mới phương Nam diễn ra liên tục với sự hình thành các thôn, ấp và sự thiết lập từng bước bộ máy hành chính các cấp của chính quyền phong kiến. Dưới đây là một số mốc lịch sử liên quan đến quá trình định cư và khai phá đất đai ở giai đoạn đầu.

Theo một số học giả Pháp, thì vào năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chettha II đã cưới một công nương, con của chúa Nguyễn. Năm 1623, theo yêu cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp đã chấp thuận việc người Việt đến làm ăn ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay), Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé (2).

  • Sách Gia Định thành thông chí viết: “Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng, rộng rãi, đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở. Ngoài ra, còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố” (3).
  • Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần lại cho phép 3.000 người Hoa “phản Thanh phục Minh” theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến cư trú chính trị và định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho.
  • Đợt chuyển cư đáng chú ý nhất vào đầu thế kỷ XVIII diễn ra sau sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định (1698). Có lẽ đây là đợt chuyển cư có tổ chức do chính quyền phong kiến hướng dẫn lớn nhất so với trước đó. Lúc này, dân số đã lên đến 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với khoảng 200.000 dân, một điều kiện quan trọng để chúa Nguyễn cho lập huyện Phước Long và Tân Bình với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn lúc bấy giờ.
  • Sang đầu thế kỷ XVIII, vào năm Ất Dậu (1705), Nguyễn Cửu Vân, một tướng của chúa Nguyễn, sau khi giúp Nặc Ông Yêm đánh bại quân can thiệp Xiêm, kéo quân vào đóng ở Vũng Gù (vùng thị xã Tân An ngày nay) cho quân khai phá vùng đất chung quanh và đào thông hai ngọn rạch Mỹ Tho – Vũng Cù, vừa để làm đường vận chuyển, vừa làm hào phòng thủ (4).
  • Năm 1756, khi Nguyễn Cư Trinh tiếp thu phủ Lôi Lạp (Soài Rạp), thì dân số vùng này đã tương đối đông. Trong tờ sớ gửi lên Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Cư Trinh viết: “Từ xứ Sài Gòn đến phủ Tầm Đôn… đất đai mênh mông, ruộng nương rất nhiều, dân số lên đến vạn người” (5). Cũng từ đây, số lưu dân kéo vào ngày càng đông, nhất là sau vụ chạy loạn của dân miền Trung vào Nam, khi quân Trịnh lợi dụng cơ hội chúa Nguyễn đang lúng túng trước phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, vượt sông Gianh, đánh chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam (1774).

Vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Phước Lộc và Thuận An đã có hơn 350 thôn với 15.000 dân đinh, tương đương với khoảng 75.000 dân (6). Như vậy, chỉ trong vòng có mấy thập kỷ mà số dân đã tăng vọt khá nhanh.

  • Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh kéo dài một phần tư thế kỷ (1777 – 1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân cư ở khu vực thành Gia Định và các vùng phụ cận, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ là vùng đất gồm một phần huyện Kiến Hòa tức cù lao An Hóa và hai huyện Bảo An, Tân Minh thuộc dinh Long Hồ).

Trong sự nỗ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ, Nguyễn Ánh cũng đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến tranh chống Tây Sơn. Từ sau năm 1790, Nguyễn Ánh cũng ra lệnh cho quân đội vỡ ruộng, cử nhiều viên quan có tài làm điền nông sứ để vận động nhân dân ra sức phát triển nông nghiệp, đặt các sở đồn điền để sản xuất lương thực. Sau này, khi đã lên ngôi vua (1802), Gia Long vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các hình thức đồn điền để mở rộng việc khai hoang. Hai cù lao Bảo và Minh cũng có một số đồn điền theo dạng này.

Đến thời Minh Mạng, Châu bản triều Nguyễn có ghi sự kiện: “Trương Minh Giảng đưa hơn 1.200 phạm nhân giao cho thành Gia Định phân phối họ đến các đồn điền” (7).

Nhìn chung các đợt chuyển cư từ miền ngoài, chủ yếu là dân vùng Ngũ Quảng (8) vào đất Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, diễn ra không ào ạt, nhưng tương đối đều đặn và liên tục. Số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng đi thuyền vào Đồng Nai, Bến Nghé, Tân Bình rồi sau đó mới tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Về tốc độ cũng như về số lượng của luồng này phát triển chậm chạp và có nhiều hạn chế. Luồng thứ hai cũng đi đường biển bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn, tiến sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông, hoặc theo dọc các con rạch.

Đầu thế kỷ XIX, khi con đường thiên lý từ Huế vào Gia Định được khai thông, có một số lưu dân chuyển cư theo đường bộ, nhưng rất hạn chế vì đường sá hiểm trở, nạn trộm cướp dọc đường thường xảy ra, cho nên không an toàn.

Đối với Bến Tre, lưu dân đi theo đường biển chiếm số lượng lớn nhất. Trong khi đó, số từ các địa phương lân cận di chuyển đến, tuy có nhưng không nhiều. Thường thường cuộc di chuyển được tổ chức thành nhóm, thành đoàn giữa những người bà con, dòng họ với nhau, những người cùng xóm giềng, làng xã quen biết nhau, những người cùng một tôn giáo (họ đạo Thiên Chúa) v.v… Và theo trình tự “người đi trước rước người đi sau”, những lớp lưu dân tự động tổ chức các cuộc đi nối tiếp nhau. Cũng có những cuộc di chuyển do Nhà nước đứng ra tổ chức, hoặc do “những người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn mộ vào Nam khai phá…” như Lê Quý Đôn miêu tả trong Phủ biên tạp lục.

Như vậy là bên cạnh đại đa số dân nghèo khổ, nạn nhân của chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến và chính sách bóc lộc, áp bức của nhà nguyễn, đi vào vùng đất mới để mong tìm được một sự “đổi đời” khá hơn, tốt hơn so với nơi quê cũ, còn có những người có tiền của, giàu có (những người có vật lực) với động cơ kinh doanh, làm ăn lớn. Chính lực lượng này vừa có vốn liếng, vừa tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, nên đã góp thêm những yếu tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ khai phá đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa.

Có những người, hoặc gia đình di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre như trường hợp ông Thái Hữu Xưa. Từ phủ Tư Nghĩa, gia đình ông đi bằng ghe bầu vào định cư tại Ba Tri.

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Vạn (90 tuổi, tính đến 1987) ở xã Thành Thới, trong bản gia phả bằng chữ Hán có ghi rõ ông tổ tên là Nguyễn Bình Đức, vợ là Bùi Thị Nhung quê ở bến đò Cô Hai, thôn An Trạch (nay thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) vào thẳng Bến Tre định cư ở Mỏ Cày.

Bản gia phả của gia đình ông Bùi Quang Đảnh (68 tuổi, tính đến năm 1984) ở thị trấn Mỏ Cày có ghi ông tổ là Bùi Ly, quê ở Châu Ổ (nay là thị trấn huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) lúc đầu đến định cư ở Giồng (Ổi, xã Long Sơn), tổng Bảo Thành, (cù lao Bảo) làm ruộng và chăn tằm.

Bản gia phả gia đình ông Lê Quang Lục (81 tuổi, tính đến năm 1984) ở xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, có ghi rõ quê quán ở thôn Phước Thuận, tổng Bình Hòa, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) vào Ba Tri bằng ghe bầu từ năm 1877.

Cũng có những bản gia phả ghi chép từng đời con cháu đến định cư ở đây, còn quê hương bản quán thì chỉ ghi chung chung “ở miền Ngoài vào”, nhưng có thể căn cứ một số chi tiết khác trong gia phả mà đoán định được quê hương gốc của họ, như trường hợp một gia đình họ Nguyễn ở xã Định Thủy (Mỏ Cày). Bài thơ chép trong gia phả này có đoạn: “Lều tranh có kẻ già khằn. Hỏi rằng xứ ấy Chiên Đờn còn xa. Mong sao phúc đức ông bà. Chuyến này chẳng đặng còn là chuyến sau”. Chiêu Đờn (hay Chiêu Đàn) là một địa danh nổi tiếng về trái thơm (khóm) thuộc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, cũng giống như thơm Bến Lức ở Long An vậy. Có khá nhiều trường hợp lưu dân trước khi định cư tại Bến Tre đã dừng lại ở một số địa phương trên đường di chuyển. Họ chuyển cư theo lối “nhảy cóc” từng chặng một, dừng lại ở đó một thời gian, có thể ngắn hoặc dài, rồi sau đó đi tiếp về phương Nam. Gia đình ông Hồ Văn Ưa là ông tổ của ông Hồ Văn Ngật, 70 tuổi ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Ông Hồ Văn Ưa gốc người Quảng Bình, theo cuộc di dân của chúa Nguyễn, đời Cảnh Hưng, vào Quảng Nam sinh sống một thời gian, sau đó đi tiếp vào Trấn Biên (Biên Hòa). Từ Biên Hòa, ông Ưa di chuyển gia đình đến Phú Lễ, huyện Ba Tri và đến nay tính đã 5 đời.

Qua cuộc khảo sát hàng trăm gia phả ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày, Chợ Lách, chúng ta gặp nhiều gia đình mà mộ cha, mộ ông nội chôn tại Bến Tre, nhưng mộ ông cố, ông sơ lại nằm ở Gò Công, Tân An hoặc Bà Rịa. Phăng tìm ngược dòng các thế hệ xa hơn nữa thì gốc gác của gia đình này ở tận Quảng Nam, Quảng Ngãi. Các cụ già khoảng 60 – 70 tuổi kể lại rằng trước đây các cụ vẫn đi về nơi ông cố, ông sơ đã từng định cư để dự giỗ chạp, dự việc họ. Chỉ từ khi chiến tranh nổ ra đến nay, việc đi lại khó khăn, không an toàn nên tục lệ này phai nhạt dần. Vùng huyện Chợ Lách và huyện Mỏ Cày có nhiều gia đình mà gốc gác hai ba đời về trước ở Trà Vinh.

Đến Bến Tre cũng không hoàn toàn có nghĩa là sẽ định cư mãi mãi ở một nơi cố định, trái lại vì nhiều lý do khác nhau, như vì sinh kế, vì hôn nhân, vì chiến tranh… nhiều gia đình lại tiếp tục di chuyển từ huyện này sang huyện khác, hoặc từ một gia đình lớn đến đời con, đời cháu, đời chắt lại phân tán ra thành nhiều gia đình nhỏ làm ăn ở nhiều nơi. Trường hợp bà tổ của ông Đặng Tường Hưng ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày là một ví dụ. Theo gia phả của gia đình còn lưu giữ được thì bà tổ tên là Hến, từ Huế dắt hai con trai vào Giồng Trôm (không ghi rõ thôn xã cụ thể) vào cuối thế kỷ XVIII. Một trong ba người con trai bị cọp vồ chết. Sau đó, bà Hến cùng hai người con trai còn lại dắt díu nhau đến định cư ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày cho đến ngày nay.

Những cuộc điều tra khảo sát về văn hóa dân gian và nguồn gốc dân cư do Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre tiến hành vào hai năm 1983 – 1984 cho biết qua 281 gia phả thành văn (bao gồm cả chữ Hán, Nôm, chữ quốc ngữ) và qua những câu chuyện kể không thành văn ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách, Bình Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre có thể rút ra một số kết luận sau đây:

  • Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XVIII chiếm 32,5%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XIX chiếm 63,9%.

Như vậy, ta thấy làn sóng lưu dân chuyển vào Bến Tre ào ạt nhất là ở thế kỷ XIX, gấp đôi số lượng của hai thế kỷ trước đó cộng lại.

– Về nguồn gốc địa phương của 112 gia phả (có nói đến xuất xứ) được chia ra như sau:

  •   + 38 gia đình quê gốc ở Quảng Ngãi.
  •   + 17 gia đình ở Thừa Thiên, Quảng Trị.
  •   + 19 gia đình ở Quảng Nam.
  •   + 9 gia đình ở Quảng Bình.
  •   + 11 gia đình ở Bình Định.
  •   + 5 gia đình ở Nghệ An.
  •   + 3 gia đình ở Hà Đông.
  •   + 2 gia đình ở Nam Định.
  •   + 4 gia đình ở miền Trung (không rõ tỉnh).
  •   + 4 gia đình ở miền Bắc (không rõ tỉnh).

Những dẫn chứng cùng các cứ liệu trên đây kết hợp với các đặc điểm về phong tục tập quán (cúng giỗ, cưới xin, ma chay, tục thờ cá voi, cúng việc lề…) về vốn văn nghệ dân gian (như hát sắc bùa), vốn từ vựng trong ngôn ngữ thường ngày của người dân, cùng những vật dụng, đồ trang trí nội thất (giường tủ, bàn thờ, chiếc rương xe, bộ tràng kỷ bằng tre) đã giúp ta xác định rõ được nguồn gốc dân cư của đồng bào Bến Tre. Ngoài ra, những tài liệu Hán Nôm, những câu liễn đối, bức hoành, sách thuốc, sách thầy cúng cũng đã cung cấp thêm cho chúng ta những cứ liệu lý thú khi đi tìm nguồn gốc của các vị tiền hiền, hậu hiền, các vị tổ của một số dòng họ, làm sáng tỏ thêm những điều ghi chép trong gia phả. Cần lưu ý thêm rằng có một số gia phả, nhất là những gia phả bằng chữ quốc ngữ, thường do những thế hệ sau này ghi theo trí nhớ của ông, cha kể lại, cho nên độ chính xác cũng chỉ là tương đối.

Tổng hợp lại tất cả các nguồn tài liệu qua những chuyến điều tra khảo sát điền dã nhiều vùng khác nhau trong tỉnh, có thể xác định được rằng nguồn gốc cộng đồng dân cư Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt từ phía nam đèo Hải Vân trở vào. Ở đây, cần lưu ý thêm một điều: nhiều gia phả ghi quê cũ ở Bắc – từ “Bắc” ở đây không mang nghĩa như ta hiểu miền Bắc của Tổ quốc ngày nay. Đa số đồng bào Lục tỉnh Nam Kỳ trước đây do thiếu hiểu biết rạch ròi về địa dư, thường căn cứ vào giọng nói, đã quan niệm “Bắc” với nghĩa bao gồm khu vực từ Bình Thuận trở ra, mà không phân biệt giọng Quảng, giọng Huế, Nghệ Tĩnh hay đồng bằng sông Hồng.

Từ nhiều địa chỉ khác nhau, những lưu dân trong quá trình đi tìm “mảnh đất lành” đã hội tụ về dải đất ba cù lao màu mỡ. Chính điều này đã góp phần quy định sự đa dạng và phong phú về kiến thức, nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất, săn bắt thú dữ, chữa bệnh khi ốm đau, xây cất nhà cửa, thói ăn nếp ở, phong tục tập quán và những sinh hoạt văn hóa dân gian khác. Ngoài những nghề chính như trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy hải sản, làm muối v.v…

Đất Bến Tre cũng là nơi có nhiều lò võ với những thầy võ nổi tiếng xa gần. Nằm trên địa bàn án ngữ con đường giao thông thủy từ miền Tây lên miền Đông, có nhiều cửa biển, tàu bè có thể từ biển Đông ngược dòng Cửu Long lên tận Phnom Pênh, Bến Tre đã sớm mở rộng sự giao lưu với bên ngoài, nên cũng là nơi nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở đây có điều kiện đi đây đi đó nhiều nơi, kể cả những nơi xa, có dịp tiếp xúc học hỏi, buôn bán, tiếp thụ những tinh hoa mọi vùng để làm giàu thêm kho tàng kiến thức của mình. Chiếc ghe Cửa Đại, nghề lưới rê, giàn đáy sông cầu, một số kỹ thuật đánh bắt tôm cá cho năng suất cao của ngư dân, nghề ghép cây, chiết cành ở Vĩnh Thành (Chợ Lách), lối kiến trúc nhà cửa ở Châu Thành, Mỏ Cày v.v… là những minh chứng cụ thể về điều đó.

Tuy nhiên, chế độ phong kiến nhà Nguyễn với cái cơ chế bảo thủ, lạc hậu mang nặng tính chất cát cứ, với những luật lệ hà khắc đã gây nên những mâu thuẫn gay gắt, làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Sử sách phong kiến cũng ghi nhận rằng trong giai đoạn 1802 – 1862, nhiều trận dịch tễ lớn đã diễn ra và đã cướp đi hàng chục vạn sinh mạng. Riêng trận dịch năm 1820 lan rộng từ Hà Tiên đến Thừa Thiên đã giết hại 50.000 người và trận dịch năm 1826 làm chết riêng ở Nam Kỳ, trong đó có Bến Tre, 16.000 người. Đặc biệt, trận dịch xảy ra vào năm Kỷ Dậu (1849), mà Bến Tre nằm trong vùng trọng điểm của nó, “đã gây tử vong khoảng 3/10 dân số và để lại ấn tượng lo ngại sâu sắc nơi các vị bô lão sống vào đầu thế kỷ XX” (9). Tình hình này đã có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử phát triển dân số của Bến Tre.

Sau này, dưới thời thuộc Pháp, bệnh dịch thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng những điều kiện vệ sinh phòng ngừa, thuốc men cũng như màng lưới y tế được tổ chức khá hơn, cho nên có thể dập tắt nhanh chóng, hạn chế được thiệt hại đáng kể.

Như vậy, tình trạng dịch bệnh ở các thế kỷ trước cũng là một nguyên nhân đáng kể làm hạn chế mức tăng dân số, thậm chí có khi gây ra hiện tượng sút giảm trong một thời gian dài. Đó là chưa kể đến bệnh sốt rét ác tính – một bệnh phổ biến ở vùng khí hậu ẩm ướt, nhiệt đới có nhiều rừng và đầm lầy, nhất là vùng đang hoặc mới khai thác còn nhiều muỗi mòng – đã giết chết hàng năm một số lượng dân cư đáng kể.

Chiến tranh cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển dân số, đồng thời cũng gây nên những xáo trộn về địa bàn cư trú trên một diện rộng. Cuộc chiến tranh kéo dài một phần tư thế kỷ giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và chính sách đàn áp, khủng bố trả thù khốc liệt của Minh Mạng diễn ra sau đó, những cuộc đàn áp dân theo đạo Thiên Chúa dưới triều Minh Mạng, Tự Đức v.v… đã gây nên những cuộc xáo trộn, di chuyển dân cư đáng kể.

Đặc biệt cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp vào nửa năm thế kỷ XIX và công cuộc “bình định” của bọn thực dân trong thập kỷ 60 và 70 tiếp theo đó đã gây nên những cuộc di chuyển dân cư rất phức tạp – không chỉ ở Bến Tre mà cả địa bàn Nam Bộ, và không chỉ ở Nam Bộ còn lan ra đến một số tỉnh miền Nam Trung Bộ. Một ví dụ: Vùng Ba Vát, Mỏ Cày là vùng dân cư đông đúc, trù phú của cù lao Minh. Sách Gia Định thành thông chí miêu tả Ba Vát “có phố xá liền lạc, ghe thuyền đậu tiếp tục đến huyện lỵ Tân An. Cách 15 dặm rưỡi, sông Mỏ Cày cũng có phố xá trù mật” (10). Sách Đại nam nhất thống chí cũng có nhận xét “Chợ Ba Vát ở thôn Phước Hạnh, lỵ sở của huyện Tân Minh, phố xá đông vui, thuyền bè tấp nập” (11). Thế nhưng nơi đây, trong cuộc đụng độ ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, đã bị tàn phá nặng nề, dân cư phân tán mỗi người một ngả, phải mất một thời gian nhiều thập kỷ mới phục hồi lại được.

Chiến tranh và chính sách khủng bố, trả thù của kẻ chiến thắng đã dẫn đến việc thay tên, đổi họ khá phổ biến ở Nam Bộ, trong đó có Bến Tre. Hiện tượng này không chỉ diễn ra dưới thời Gia Long, Minh Mạng… mà cả sau này, dưới thời thực dân Pháp với chính sách đàn áp những người kháng chiến và những người ủng hộ lực lượng kháng chiến của chúng và đám tay sai “tân trào”. Gia phả của từng gia đình họ Đỗ ở xã Lương Hòa (Giồng Trôm) gốc từ miền Trung vào đây sinh cơ lập nghiệp đã 7, 8 đời có nói rõ lý do thay tên đổi họ giữa thời buổi nhiễu nhương như sau: “Quê này quê của người ta. Anh em lưu lạc sống hòa người dưng. Thay tên đổi họ không ngừng. Mới hòng sống đặng với cùng giặc Tây”. Như vậy, việc thay tên đổi họ không chỉ diễn ra một lần, có khi nhiều lần, như trường hợp nhà họ Đỗ trên đây sau khi Pháp xâm lược.

Như đã trình bày ở phần trên, nguồn gốc dân cư gắn liền với lịch sử đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, gắn liền với việc khai phá và tạo dựng thôn ấp, làng xã của nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Quá trình đi tìm đất mới để lập nghiệp, tính kế dài lâu cho các con cháu của ông cha ta trên mảnh đất này rõ ràng đã không diễn ra đơn giản, thẳng tuột một lèo từ bến A đến bờ B như trên một dòng sông chảy xuôi về biển, mà thường rất quanh co, khúc khuỷu. Sự xê dịch, xáo trộn, có khi hợp rồi tan, có khi đi vòng vo là những hiện tượng thường thấy ở nhiều gia đình, dòng họ cũng như nhiều làng xã ở Bến Tre.

Khi đến vùng đất mới, những lưu dân thường có tập quán sống quần tụ với nhau theo quan hệ gia đình, dòng họ, hoặc cùng quê quán, cùng tôn giáo trên những nơi thế đất cao ráo, gần bến sông hay rạch, thuận lợi cho việc canh tác, tưới tiêu nước và vận chuyển, đi lại. Rồi dần dần thôn ấp được hình thành, đến khi có được một số lượng dân nhất định, họ chung nhau xây đình, dựng chùa, lập chợ… Các nơi này trở thành những trung tâm thu hút lớp lưu dân đến sau và họ nương tựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong khai phá đất đai, đắp đập, đào mương thủy lợi v.v… Ví như nghề đóng đáy trên sông, biển, không thể một mình, một người làm nổi, mà cần phải có nhiều người chung vốn, chung sức cùng hợp tác với nhau.

Theo thời gian, các tụ điểm dân cư dần dần nối liền nhau và tỏa rộng ra theo hình rẽ quạt. Dĩ nhiên, bản đồ dân cư lúc đầu trong một thời gian dài còn mang hình “da báo” khá rõ, bởi vì những điều kiện kỹ thuật canh tác, sức lao động, phương tiện… còn rất nhiều hạn chế. Cách thức khai hoang chủ yếu vẫn là theo lối “móc lõm”, nghĩa là những nơi nào hội đủ những điều kiện tốt nhất (địa thế đất đai hợp với cây trồng, nước tưới, điều kiện để bảo vệ v.v…) thì công cuộc khai phá được tiến hành, nơi nào khó khăn quá, sức người chưa vượt qua nổi thì chừa lại, tính sau khi có đủ điều kiện.

Có thể nói rằng đến cuối thế kỷ XVIII diện mạo của cộng đồng dân cư Bến Tre về cơ bản đã định hình trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu nông nghiệp và ngư nghiệp. Cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang, sản xuất phát triển, lương thực dồi dào, các thôn xã hình thành ngày một nhiều. Việc quản lý xã hội đi dần vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho đời sống tinh thần – văn hóa của cộng đồng phát triển.

Từ năm 1802, chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh kết thúc. Trong bối cảnh hòa bình, toàn vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung cũng như Bến Tre nói riêng, người dân bắt tay vào xây dựng lại đời sống, ổn định nơi ăn chốn ở. Những chủ trương, chính sách mới của Nhà nước phong kiến khuyến khích việc khai hoang như miễn giảm thuế một số năm cho ruộng mới vỡ, phong thưởng cho những thành tích mộ dân, khẩn đất, lập làng, ấp… đã có tác dụng kích thích mạnh đến sản xuất nông nghiệp, làm tăng nhanh dân số. Nghề thủ công và buôn bán cũng phát triển, các chợ búa, phủ lỵ, quận lỵ, huyện lỵ hình thành, đón nhận những người “có vật lực” và những luồng lưu dân mới từ miền ngoài kéo vào đông đảo hơn, bổ sung vào cộng đồng cư dân Bến Tre vào nửa đầu thế kỷ XIX. Việc di dân liên tục đến Bến Tre (tất nhiên có một số người từ Bến Tre chuyển đi các vùng khác ở Nam Bộ) và sự gia tăng dân số tự nhiên đã làm cho dân số của tỉnh tăng nhanh. Qua bản thống kê số dân ở Nam Bộ vào giữa thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) có 41.336 dân đinh, nghĩa là vào khoảng 206.000 dân.

Ở thời điểm này, nền kinh tế của Bến Tre – chủ yếu là nông nghiệp – cũng đã phát triển khá. Nguồn lợi chủ yếu là gạo và dừa khô, thứ đến là trái cây. Bến Tre cũng bán ra ngoài mặt hàng lụa và cau khô, một số sản phẩm của biển như cá khô, tôm khô v.v…

Sự tăng trưởng về kinh tế đã tạo điều kiện cho văn hóa, giáo dục phát triển. Trước khi giặc Pháp chiếm đóng, tỉnh Bến Tre đã có 70 trường dạy chữ Hán (12). Các trường này phần lớn đặt ở các tư gia hoặc trong các chùa chiền để dạy chữ và lễ nghĩa, đạo lý. Trong số đó có trường nổi tiếng của thầy giáo kiêm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy là khi đời sống kinh tế đã ổn định, thế hệ cha ông chúng ta đã nghĩ đến việc học chữ. Với truyền thống hiếu học, nhân dân Bến Tre trong các thế kỷ qua đã có nhiều người đỗ đạt cao, có tri thức uyên bác trong hàng khoa mục ở Nam Kỳ.

Dưới chế độ thực dân Pháp (1867-1945):

Ngày 18-2-1859, quân xâm lược Pháp nổ súng đánh vào thành Gia Định. Sự ươn hèn của quan quân triều đình tạo thêm điều kiện cho bọn cướp nước chiếm thành rồi chiếm đất dễ dàng. Đất nước thực sự bị đặt trong tình trạng chiến tranh, nhất là sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ. Chẳng bao lâu, giặc Pháp đánh chiếm rộng ra các tỉnh lân cận. Thành Định Tường bị chiếm ngày 12-4-1861, Biên Hòa ngày 18-12-1861, tiếp đó thành Vĩnh Long rơi vào tay giặc ngày 23-12-1862.

Phản ứng lại hành động của quân cướp nước, đồng bào ta đã nhất tề đứng dậy chiến đấu chống lại chúng với tất cả những gì mà họ có được. Hầu như các tầng lớp xã hội đều có mặt và đã đóng góp hết sức mình, từ người Việt đến người Minh Hương. Truyền thống yêu nước của đồng bào ta hun đúc từ hàng thế kỷ trong quá trình lịch sử, nay được bộc lộ với tất cả những nét đẹp và hào hùng nhất. Nhiều người yêu nước ở các tỉnh miền Đông không chịu sống trong vùng do giặc kiểm soát, đã bỏ ruộng vườn, cơ nghiệp để đi đến vùng đất còn thuộc quyền kiểm soát của triều đình ở phía Bắc như Bình Thuận, hoặc về các tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

Vùng đất Bến Tre, lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long (được Pháp trả lại cho triều đình Huế theo hiệp ước 1862) đã trở thành nơi tiếp nhận những luồng người “tị địa”. Cụ Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình từ quê vợ Cần Giuộc đi thuyền về cư trú ở Ba Tri là một ví dụ. Việc các học trò của cụ Võ Trường Toản, trong đó có Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông… tổ chức di dời hài cốt của thầy từ Hòa Hưng (Sài Gòn) về Bảo Thạnh (huyện Ba Tri) với ý tưởng không để thầy “nằm trên đất địch chiếm đóng” cũng phản ánh quan điểm sĩ phu Nam Kỳ lúc bấy giờ.

Cuộc chiến tranh xâm lược đã gây nên những xáo trộn nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng cư dân ở đây, đặc biệt từ năm 1867, khi ba tỉnh miền Tây rơi nốt vào tay giặc. Theo số liệu thống kê của thực dân vào thời kỳ đầu của cuộc xâm lược Pháp ở Nam Kỳ (1859) tỉnh Bến Tre có 110.000 dân (1). Đến năm 1869, nghĩa là sau 10 năm – thời kỳ diễn ra cuộc “tị địa” về các tỉnh miền Tây, vùng đất còn tự do – dân số Bến Tre tăng lên 156.000 người (2), tức gấp rưỡi, trung bình mỗi năm tăng 4.700 người. Điều này chỉ có thể giải thích được là ngoài số dân tăng tự nhiên, còn có khá đông người “tị địa” từ nơi khác đến Bến Tre.

Thế nhưng, đến khoảng thời gian 10 năm tiếp theo (1869 – 1879), dân số Bến Tre chỉ tăng lên đến 163.000 người, nghĩa là số tăng (6.300 người) chỉ bằng một năm rưỡi của mười năm trước đó. Vấn đề đặt ra là phải chăng số tử suất tăng nhiều do chiến tranh, nên tốc độ phát triển dân số chậm lại? Tất nhiên số người chết trong chiến tranh bao giờ cũng cao hơn thời bình, nhưng sẽ không đúng khi vận dụng để giải thích trong trường hợp cụ thể của tỉnh nhà trong những năm 1869 – 1879. Như ta biết, đây là những năm đầu Bến Tre bị giặc chiếm. Vùng đất “tị địa” của những sĩ phu và đồng bào yêu nước của các tỉnh miền Đông trong thời kỳ trước 1867 giờ đây cũng chịu chung số phận đau thương: “Lòng giận ngàn thu đất nổi dày” (3).

Với truyền thống bất khuất, nhân dân Bến Tre đã đứng lên cầm vũ khí trực tiếp chống giặc. Tiếp nối những gương hy sinh anh dũng thuộc thế hệ chống Pháp đầu tiên trên đất Bến Tre như Trương Tấn Chí (trận Hưng Điểm), Phan Tòng (trận Giồng Gạch), nhiều cuộc nổi dậy của nghĩa quân liên tiếp nổ ra. Đó là cuộc khởi nghĩa do hai anh em Phan Tôn, Phan Liêm lãnh đạo ở Ba Tri, cuộc khởi nghĩa ở vùng Ba Châu do Tán Kế lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa ở Mỏ Cày do Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương tổ chức. Nhiều nơi ở trong tỉnh, nhân dân đã tỏ thái độ bất hợp tác với giặc. Họ hy sinh tài sản, tổ chức làm “vườn không nhà trống”, đốt chợ, đào đường, phá cầu để ngăn bước tiến của giặc. Nhân dân cả làng Quới Điền, tổng Minh Phú và làng An Thới, tổng Minh Huệ đã bỏ quê kéo nhau đi nơi khác sinh sống (4).

Tình hình diễn ra trên đây cho phép ta đi đến kết luận về hiện tượng tăng dân số chậm của 10 năm qua (1869 – 1879) là do tử suất tăng vì chiến tranh, nhưng phần chính là do một bộ phận nhân dân đã tự động bỏ quê đi nơi khác, hoặc lẩn tránh ngoài vòng kiểm soát của chính quyền thực dân. Trong chiến tranh, số người chết do đánh nhau thường là nam giới, kể cả đối tượng bị bọn thống trị truy nã buộc phải bỏ xứ tránh đi nơi khác cũng phần lớn là nam giới. Điều này đã làm thay đổi cơ cấu dân số, tỷ lệ giữa nam và nữ, tháp tuổi, và tất nhiên hiện tượng này có ảnh hưởng nhất định đến tốc độ phát triển kinh tế và đời sống xã hội trong nhiều năm sau đó.

Ngày 15-10-1888, chính quyền thuộc địa ra nghị định đánh thuế ruộng và thuế thân theo chính sách mới ở Nam Kỳ. Chúng bãi bỏ cách đánh thuế thân theo lối phân bố cho từng làng của nhà Nguyễn trước đó, bắt buộc những người được coi là “nội đinh” đều phải nộp một đồng bạc Đông Dương mỗi năm.

Ngày 5-10-1882, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh cho phép Thống đốc Nam Kỳ được thu thêm mỗi làng xã một khoản tiền để chi vào việc “giữ gìn trật tự, trị an” và những khoản “tiền phát” đối với những làng xã có người tham gia phong trào chống Pháp. Như vậy có nghĩa là, chính quyền thuộc địa muốn dùng biện pháp kinh tế để đe dọa và khống chế những người yêu nước ngay trong làng quê của họ.

Ngày 3-10-1883, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định bắt các làng xã ở Nam Kỳ lập sổ bộ sinh tử, giá thú để nắm chặt số dân hơn nữa.

Kể từ thập kỷ 80 về sau, công cuộc “bình định” của thực dân Pháp ở Nam Kỳ về cơ bản coi như đã xong, những cuộc khởi nghĩa và nổi dậy của lực lượng yêu nước đã bị dập tắt. Chính quyền thuộc địa, cùng với việc củng cố bộ máy thống trị từ trên đến dưới, cũng tiến hành xây cất các công sở. Ở Bến Tre, tiếp theo các việc xây dựng tòa hành chính là việc lập khám đường, ty cảnh sát, kho bạc, ty thương chánh, trại lính mã tà, tòa án. Ngoài ra, một số công trình công cộng xã hội cũng được xây dựng như bệnh viện, trường tiểu học, chợ Bến Tre…

Ngày 6-10-1891, một cuộc điều tra, đo đạc, phân loại ruộng đất trên toàn cõi Nam Kỳ được tiến hành. Thêm vào đó, bọn tay sai “tân trào” lại ra sức bóc lột, cướp giật đất đai, tiền của của những gia đình có người tham gia nghĩa quân, hoặc có cảm tình, ủng hộ kháng chiến. Ở Bến Tre, chúng đã tiến hành việc lập địa bạ, phân định lại ranh giới đất tư và đất công.

Các chủ trương trên không ngoài việc chuẩn bị cho một kế hoạch khai thác thuộc địa quy mô, mà việc xuất khẩu lúa gạo là một trong những mục tiêu quan trọng nhất. Điều đó cũng có nghĩa là người nông dân vẫn là đối tượng bị đè nén, bóc lột, bị bần cùng hóa hơn mà thôi. Nhiều người nông dân phải cầm bán ruộng đất, bỏ quê hương đến nơi khác để sinh sống, hoặc ra thành thị làm cu-li, tạp dịch, kéo xe v.v… Thực trạng này đã làm cho sự biến động dân cư thêm phức tạp.

Các số liệu thống kê của chính quyền thực dân cho thấy diễn biến của sự gia tăng dân số của Bến Tre (không kể cù lao An Hóa lúc này còn thuộc tỉnh Mỹ Tho) trong những năm đầu thế kỷ XX như sau:

Như vậy, trong vòng 30 năm, số dân Bến Tre từ 216.000 người tăng lên 315.000 người, trung bình mỗi năm tăng 3.270 người. Đó là tỷ lệ phát triển dân cư tương đối thấp. Trong khi đó, ở giai đoạn 15 năm cuối cùng của chế độ thực dân Pháp (1930 – 1945) dân số của Bến Tre mỗi năm tăng trung bình 9.000 người (6). Trong giai đoạn này có một vài sự kiện đáng ghi nhận: cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) với chính sách khủng bố trắng của địch và việc động viên một số thanh niên đi lính sang châu Âu trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, những sự kiện này nhìn chung không gây nên những xáo trộn lớn về mặt dân cư.

Một điều đáng lưu ý là ở Bến Tre từ sau khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ, không còn những nguồn lưu dân từ phía Bắc bổ sung liên tục như ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX về trước. Sự tăng trưởng về dân số chủ yếu là tăng theo tự nhiên. Có một số dân cư từ các tỉnh khác ở Nam Kỳ di chuyển đến Bến Tre, nhưng không nhiều.

Về tình hình phân bố dân cư, nếu như từ nửa đầu thế kỷ XIX về trước, cư dân Bến Tre tập trung chủ yếu ở các vùng giồng, đất đai cao ráo và ở các miệt vườn, ven sông rạch cùng các bến sông, bến tàu thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hoá, thì sau khi người Pháp đến chiếm đóng, mở mang thêm hệ thống giao thông đường bộ, nhiều tụ điểm dân cư mới được hình thành ở ngã ba, ngã tư, bến phà và những thị tứ mới… Ở các trung tâm hành chính (tỉnh lỵ, quận lỵ) dân số cũng tăng nhanh.

Năm 1901: 216.816 người
Năm 1909: 219.000 người
Năm 1914: 270.000 người
Năm 1918: 309.000 người
Năm 1929: 315.000 người

Tỉnh lỵ Bến Tre đặt tại làng An Hội là một trong những điểm dân cư quan trọng. Nằm trên bờ sông Bến Tre, ngay từ thế kỷ XVIII, nơi đây cũng đã làm điểm giao thương sầm uất, thuyền bè lui tới tấp nập, tỉnh lỵ xứng đáng là một trung tâm kinh tế, văn hoá nằm giữa một vùng đất đai trù phú. Con đường liên tỉnh 6A (nay là quốc lộ 60) nối từ bến phà Rạch Miễu ngang qua tỉnh lỵ đến bến phà Hàm Luông, sang tận bến phà Cổ Chiên và tỉnh lộ 26 nay là đường tỉnh 885, từ thị xã chạy qua Mỹ Lồng, Cái Bông, Ba Tri ra tận đến biển đã làm tăng thêm vị trí quan trọng của tỉnh lỵ. Mặc dù dồn về Mỏ Cày, nhưng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của nó vẫn không thay đổi. Dân số ở đây vẫn tiếp tục tăng đều. Theo thống kê của Pháp, đầu thế kỷ XX, làng An Hội có 5.352 người, đến năm 1930, tỉnh lỵ có 6.130 người và đầu năm 1943, có 9.800 người (7).

Theo J. C. Baurac trong quyển Nam Kỳ và dân cư (8), vào cuối thế kỷ XIX, tỉnh Bến Tre (không kể cù lao An Hóa) đã hình thành 18 trung tâm dân cư có từ 300 đến 800 người sống tập trung buôn bán, làm các nghề thủ công như Mỹ Lồng, Ba Tri, Hương Điểm, Sóc Sãi, Mỏ Cày, An Định, Đại Điền, Cái Mơn, Thom, Ba Vát v.v… Số dân của hai cù lao lúc bấy giờ là 162.834 người, diện tích canh tác chiếm 97.613 ha trong 154.600 ha diện tích đã được đo đạc.

Ở Bến Tre, vùng có mật độ dân số cao thường là những vùng được khai phá sớm như tổng Bảo An, Bảo Hựu, Bảo Lộc, Bảo Thành (ở cù lao Bảo), các tổng Minh Đạo, Minh Đạt, Minh Thiện, Minh Thuận (ở cù lao Minh) và tổng Hòa Quới ở cù lao An Hóa. Đến đầu thế kỷ XX, thì đất đai ở Bến Tre về cơ bản đã được khai phá xong, không còn những vùng đất hoang rộng lớn như ở các tỉnh miền Tây, trừ một số đất rừng ngập mặn vùng ven biển Bình Đại và Thạnh Phú.

Nhiều chợ búa được lập ra để đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa cũng như những nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của người dân. Từ chỗ 14 chợ được xây cất nhà lồng chắc chắn vào năm 1892 (không kể các chợ chồm hổm) đến năm 1945, con số đó tăng lên 51 chợ (9), trong đó có những thị trấn, thị tứ sầm uất, hoạt động thương mại khá phồn thịnh như Mỹ Lồng, Giồng Trôm, Hương Điểm, Ba Tri, Mỏ Cày, Thom, Bang Tra, Giồng Luông, Thạnh Phú, Chợ Lách, Tân Thạch, Bình Đại. Nhìn chung, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre trong giai đoạn thuộc Pháp, so với các tỉnh bạn không có hiện tượng đột biến lớn, trừ giai đoạn đầu mới chiếm đóng có những xáo trộn nhất định cùng vài hiện tượng lên, xuống về số dân như đã nêu ở trên. Sự phân bố dân cư diễn ra tương đối đều giữa các vùng và khá ổn định, không có sự chênh lệch quá đáng giữa vùng này với vùng khác trong tỉnh.

Thời kỳ chống Pháp và Mỹ:

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954):

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v… đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa” – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những “giỗ hội” hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v… có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo… Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ” (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975):

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt… Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng”, “giết lầm hơn tha lầm”.

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v…

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là “ấp chiến lược”. Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược – ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v… Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v… đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao – một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn “hữu sinh vô dưỡng” và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế – xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiên:

Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Đầu tháng 2-1859, sau khi kế hoạch đánh mau thắng mau bị chặn lại ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Sáng ngày 17-2-1859, sau khi bắn phá 12 đồn dọc hai bờ sông và 3 cảng trên sông Sài Gòn, quân xâm lược Pháp công hãm thành Gia Định. Đến 10 giờ cùng ngày thì chúng chiếm được thành.

Cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp vào Gia Định lần này chỉ vấp phải sự chống trả yếu ớt của quân đội triều đình, một lực lượng vốn nhỏ bé lại thiếu phòng bị. Trong khi đó, ngay từ đầu, khi quân giặc từ Vũng Tàu tiến vào bắn phá pháo đài Phước Thắng ở núi lớn (Gành Rái), nhân dân Lục tỉnh đã phất cao cờ chống giặc, chủ động tổ chức thành những đạo quân “ứng nghĩa” tiếp sức cho quân đội triều đình và các toán dân dũng tự phòng vệ các thôn xã. Khi được tin quân Pháp đánh vào Gia Định, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, quê xã Mỹ Thạnh (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) đã mang quân tiếp cứu, nhưng chưa đến nơi thì đồn đã mất. Ông tập hợp quân sĩ cùng quân nghĩa dũng các vùng phụ cận củng cố, giữ đồn Cây Mai.

Sau khi thành Gia Định bị chiếm, nhân dân quanh vùng liên tục bao vây chặn đánh, khiến địch chiếm được thành mà không đánh bung ra được, lại luôn luôn bị tập kích bất ngờ. Đêm nào quân giặc đóng trong thành cũng bị những toán dân dũng đột kích.

Nhận thấy không thể nuốt ngay được Lục tỉnh, giặc Pháp chuyển hướng tấn công ra Đà Nẵng, sau khi đã đốt thành Gia Định. Nhưng ở Đà Nẵng, chúng lại nếm mùi thất bại, nên đầu năm 1860, chúng lại tập trung quân kéo vào đánh Gia Định lần thứ hai. Lần này chúng ra sức mở thêm phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia Định, chủ yếu là chiếm Chợ Lớn – trung tâm thương mại của Nam Kỳ – nhằm tính kế lâu dài “chinh phục bằng những gói nhỏ” (1).

Đứng trước âm mưu mới của giặc, những thống đốc đại thần, tham tán quân vụ, đô đốc, lãnh binh của triều đình Huế, theo lệnh Tự Đức đã án binh bất động (2). Trong khi đó nhân dân Lục tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre một lòng quyết đánh đuổi cho bằng được bọn xâm lược. Các đạo quân ứng nghĩa, các toán dân dũng tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi.

Ngày 1-4-1861, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến về tỉnh thành Mỹ Tho. Chúng đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các toán dân dũng phục kích hai bên bờ sông và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề (3). Mặc dầu vậy, do sự chống cự yếu ớt với tinh thần thất bại chủ nghĩa của quân đội triều đình, giặc Pháp đã chiếm được tỉnh thành Định Tường ngày 15-4-1861. Lãnh phủ Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy quân triều đình đã bỏ thành, rút chạy.

Sau khi Định Tường thất thủ, một phong trào võ trang chống Pháp lan ra nhanh chóng trên toàn bộ vùng đất bị giặc chiếm dưới hình thức các đơn vị nghĩa quân, trong đó hoạt động mạnh nhất là đơn vị nghĩa quân của Trương Định, gồm hơn 6.000 người, đóng căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công).

Có thể nói rằng từ sông Bến Nghé đến sông Tiền, nhân dân nhất tề nổi dậy, từ người nho sĩ, người chủ điền tới người thợ thủ công, nông dân, tất cả đều hăng hái chống giặc, kẻ theo địch chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Riêng Bến Tre (4), tuy lúc này vẫn là vùng tự do, nhưng nhân dân ở đây cũng không đứng ngoài cuộc chống giặc cứu nước. Trái lại, họ đã nô nức đóng góp tiền gạo, rèn đúc vũ khí, ủng hộ nghĩa quân. Những người trai tráng thì hăng hái xung phong, vượt sông tham gia vào các đội nghĩa quân.

Sức mạnh của phong trào kháng chiến của nhân dân ở đây, ngay chính giặc Pháp cũng phải thừa nhận: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam (tức quân đội triều đình – BS) không có ảnh hưởng nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng (5). “Họ (chỉ các toán nghĩa quân – BS) xuất hiện bất kỳ, đông đảo, đánh phá rồi lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này” (6).

Tuy phải chuốc lấy những tổn thất nặng nề trước sự chống trả mạnh mẽ của nhân dân ta, nhưng giặc Pháp vẫn không từ bỏ kế hoạch tiếp tục đánh chiếm các vùng đất còn lại. Vì vậy, sau khi được tăng viện và tổ chức thêm lực lượng ngụy binh, ngày 7-1-1862, chúng đánh chiếm thành Biên Hòa, tiếp đó ngày 23-3-1862, đánh chiếm luôn thành Vĩnh Long (lần thứ nhất).

Thành Biên Hòa và thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp tục bùng lên sôi nổi. Nghĩa quân hoạt động mạnh ở khắp nơi, đẩy giặc vào tình thế vô cùng khốn đốn. Chiến công này có sự đóng góp của nhân dân ba dải cù lao An Hóa, Minh và Bảo. Họ tiếp tục chi viện sức người, sức của cho các toán nghĩa quân trong vùng địch chiếm đóng, nhất là ở khu vực quanh thành Vĩnh Long. Tổng đốc Trương Văn Uyên sau khi rút khỏi thành Vĩnh Long, đã chạy qua huyện Duy Minh (Mỏ Cày ngày nay), nơi đây ông được dân chúng nhiệt tình ủng hộ.

Giữa lúc quân xâm lược đang khốn đốn, thì triều đình nhà Nguyễn vẫn đi theo đường lối cầu hòa, bỏ rơi nhân dân ứng nghĩa. Ngày 5-6-1862, hòa ước nhượng đứt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông được ký kết giữa phái đoàn triều đình Huế và đại diện Pháp tại Sài Gòn.

Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, nhưng nhân dân thì hành động theo cách nghĩ của họ. Ngay sau khi hòa ước được ký kết, một phong trào chống Pháp lại lan rộng dưới nhiều hình thức. Cuộc đấu tranh võ trang tiêu biểu là hoạt động của nghĩa quân Trương Định, trong đó có sự góp phần của nhân dân huyện Kiến Hòa (Bình Đại) (7) , phủ Hoằng Trị (Bến Tre), làm cho giặc Pháp cảm thấy rất lúng túng. Trong lá thư đề ngày 21-10-1862 gửi cho Bộ trưởng hải quân Pháp Chasseloup Laubat, Đô đốc Bonard, Tổng chỉ huy đạo quân xâm lược, than thở rằng y đã gặp phải một thuộc địa khó trị nhất, nơi tất cả phải bắt đầu từ đầu, giữa những lúc bế tắc của chiến tranh và những phức tạp của ngoại giao (8).

Cùng với cuộc đấu tranh võ trang, một phong trào “bất hợp tác”, không chịu chung sống với giặc, đựơc gọi là “tị địa” đã thu hút nhiều nhân sĩ, nhà nho yêu nước và đông đảo nhân dân của 3 tỉnh bị chiếm. Những người này kiên quyết rời bỏ vùng đất đã bị giặc chiếm để chuyển sang Vĩnh Long, hoặc ra Bình Thuận. Đó là một biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, căm thù giặc của nhân dân. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu. Khi thành Gia Định thất thủ (17-2-1859), Nguyễn Đình Chiểu bỏ Gia Định chạy về Cần Giuộc. Đến khi Cần Giuộc bị chiếm, Nguyễn Đình Chiểu lại một lần nữa rời nơi đây, về Ba Tri (Bến Tre) với ý thức quyết không sống chung với quân thù.

Với phong trào “tị địa”, sau khi 3 tỉnh miền Đông lọt trọn vào tay quân Pháp, Bến Tre cùng với các tỉnh miền Tây còn lại trở thành nơi tụ họp, gặp gỡ của các nhà yêu nước cùng nhau mưu đồ việc lớn, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước, quê hương.

Cuộc đấu tranh võ trang và phong trào “tị địa” của nhân dân 3 tỉnh , trong đó có sự đóng góp của nhân dân Bến Tre, đã gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập trật tự và nền cai trị của chúng ở vùng đất mới chiếm. Chính Paulin Vial, một viên tham biện Pháp đã tự thú nhận nỗi lo sợ của chúng trước phong trào chống giặc cứu nước của nhân dân lục tỉnh. Y viết: “Chính lúc Đô đốc (chỉ Bonard) tưởng đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu một cách thắng lợi, lại là lúc vấp phải một cuộc kháng chiến và có lẽ đáng sợ hơn là một cuộc chiến tranh chống lại quân đội chính quy của nhà nước” (9). Bản thân L. Bonard, trong một báo cáo gửi về Pháp, đã nhận xét: “Cuộc khởi nghĩa là thường trực, nơi nào đó cũng bị chặn lại, nhưng không nơi nào khởi nghĩa bị đánh tan, vì ta không có đủ phương tiện” (10) .

Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với địch vào những năm sau ngày ba tỉnh miền Đông vừa mới mất vào tay giặc Pháp, người dân Bến Tre rất tự hào về những người con ưu tú của mình, mà tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Thăng, Nguyễn Đình Chiểu.

Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, người đã từng đem binh cứu viện thành Gia Định nhưng không kịp, bèn lui về tổ chức phòng thủ đồn Cây Mai. Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (25-2-1861), ông rút về Gò Công, tập hợp, xây dựng lực lượng, tiếp tục chống Pháp trong hàng ngũ nghĩa quân Trương Định. Sau hơn 5 năm trời vào sinh ra tử, cuối cùng ông đã anh dũng hi sinh ngày 27-6-1866 trong một cuộc chiến đấu không cân sức với giặc Pháp ở vùng Gia Thuận (Gò Công).

Còn Nguyễn Đình Chiểu, thì sau khi Cần Giuộc bị chiếm (14-12-1861) ông đã rút về Ba Tri (Bến Tre), để bảo toàn khí tiết của một nho sĩ. Thời gian ở Ba Tri, trong mấy năm đầu “tị địa”, Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học vừa bốc thuốc trị bệnh cho dân, vừa hăng say chống giặc bằng ngòi bút, đồng thời còn làm tham mưu cho vị lãnh tụ nghĩa quân Trương Định. Tại đây, ông lại tiếp tục viết nên “những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, chống bọn xâm lược phương Tây” (11) như Văn tế sĩ dân Lục tỉnh, Ngư tiều y thuật vấn đáp v.v… Vào những ngày cuối tháng 8-1864, khi nghe tin Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Văn Tấn dẫn giặc tập kích, bắn chết ở Kiểng Phước (Gò Công), ông đã cảm xúc làm bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu Trương Công rất lâm ly, không những biểu thị lòng thương tiếc người anh hùng đã hy sinh mà còn bộc lộ mối căm thù sâu sắc của ông đối với quân xâm lược.

Trương Định hy sinh và cuộc chiến đấu của nghĩa quân do ông trực tiếp lãnh đạo không giành được thắng lợi, nhưng phong trào kháng chiến của nhân dân các tỉnh vẫn không vì thế mà bị dập tắt. Trái lại nhiều nghĩa quân của Trương Định, sau khi chủ tướng hy sinh, đã tản về các địa phương, tiếp tục hoạt động chống Pháp.

Riêng ở Bến Tre, lúc này nổi lên một hoạt động của hai nhóm nghĩa quân: một nhóm của Trịnh Viết Bàng và một nhóm của Huỳnh Văn Thiệu. Trịnh Viết Bàng quê làng Tân Định (thuộc cù lao An Hóa), từng tham gia phong trào chống Pháp của Trương Định. Năm 1864, sau khi căn cứ Tân Hòa (Gò Công) thất thủ, chủ tướng hy sinh, ông cùng một số người thân tín rút về hoạt động chống Pháp ở cù lao An Hóa. Ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân và thường xuyên tổ chức lùng diệt những tên tay sai gian ác của giặc. Hoạt động được một thời gian, ông bị giặc Pháp bắt và chém đầu tại thị xã Mỹ Tho (12). Lúc chết ông vẫn không quên dặn lại: “Sau khi ta chết, đem xác ta về chôn ở ngã tư để con cháu nhớ mà không theo giặc”. Cũng như Trịnh Viết Bàng, Huỳnh Văn Thiệu cũng là một bộ tướng của Trương Định. Chủ tướng mất, ông về quê tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Châu Hưng. Ít lâu sau, do kẻ gian mật báo, giặc Pháp bắt được ông đem xử trảm ở Bàu Sấu (13).

Các cuộc nổi dậy chống giặc cứu nước của nhân dân 3 tỉnh bị chiếm với sự tham gia hỗ trợ của nhân dân các tỉnh miền Tây đã gây cho địch khá nhiều tổn thất, nhưng trước sự ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn, tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm luôn 3 tỉnh còn lại. Thế là đến lượt Bến Tre rơi vào tay giặc pháp. Chiếm luôn được 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, giặc Pháp vô cùng hí hửng, tưởng như thế là đã nuốt xong 6 tỉnh Nam Kỳ một cách êm xuôi. Nhưng chúng đã lầm. Vừa đặt chân đến đất Bến Tre, chúng đã vấp phải một sự kháng cự anh dũng của nhân dân xứ Dừa. Tháng 6-1867, Pháp chiếm Bến Tre thì tháng 8-1867, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai người con của Phan Thanh Giản là Phan Liêm và Phan Tôn (14). Cuộc khởi nghĩa này có quy mô rộng lớn. Giặc Pháp thú nhận cuộc khởi nghĩa rất khó đàn áp, vì nhân dân tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ, cả Vĩnh Long nữa, đã nhất tề đứng lên. Trung tâm cuộc khởi nghĩa là Bảo An (phần đất của huyện Ba Tri bây giờ), vì vùng này hồi đó rất hoang vu, cây cối rậm rạp, kênh, rạch, xẻo, mương chằng chịt, rừng dừa nước, rừng đủng đỉnh, rừng bần… dày đặc, rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Giặc Pháp hết sức tức tối, tập trung lực lượng để đàn áp. Tối 9-11-1867, một toán lính Pháp khoảng 40 tên do De Champeaux chỉ huy kéo đến bao vây làng Hương Điểm – một địa điểm hoạt động của nghĩa quân (15). Chúng đóng quân trong chùa, đợi sáng ngày tiến hành đàn áp. Nhưng ngay tối hôm đó, nhân khi trời mưa to gió lớn, hơn 100 nghĩa quân đã mở cuộc tấn công dữ dội vào doanh trại giặc, De Champeaux bị đâm trọng thương. Bị đánh bất ngờ, toàn bộ quân giặc hoảng sợ, rút chạy ngay đêm ấy. Bọn Pháp buộc phải đem quân từ Sài Gòn, Vĩnh Long đến ứng cứu. Ngày 12-11, đạo quân tiếp viện gồm 3 chiến thuyền, 150 lính Pháp do tên quan tư Ansart chỉ huy và 200 lính mã tà do Vial cầm đầu kéo đến Bến Tre, bao vây Hương Điểm. Sáng 13-11, giặc mở đầu cuộc bao vây, lùng sục. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra hết sức quyết liệt. Trong trận này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng quên mình, trong đó có Trương Tấn Chí, cháu của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, cầm cờ xung phong lên trước, bị trúng đạn ngã gục (16). Giặc Pháp không dám tiến sâu vào các thôn xóm, chỉ co cụm tại chợ, đến chiều lại theo tàu chở về tỉnh lỵ Bến Tre, để lại 50 lính mã tà do Quản Cho chỉ huy.

Thực hiện vừa đánh vừa xoa, ngày 14-11, giặc Pháp sai Tôn Thọ Tường, vốn là chổ quen biết với Phan Thanh Giản, đến gảnh Mù U dụ hàng Phan Tôn và Phan Liêm, nhưng cuộc thuyết phục bất thành vì thái độ cương quyết của hai người.

Dụ hàng không được, sáng 15-11, giặc lại tung quân đi đàn áp. Tại chợ Hương Điểm, chúng phát hiện nơi để vũ khí của nghĩa quân, lấy được một số lượng vũ khí. Cùng ngày, giặc cho tàu chiến chạy dọc theo sông Hàm Luông để truy lùng, uy hiếp quân khởi nghĩa. Đến 4 giờ chiều, chúng đổ bộ lên ấp An Thới, làng An Lái. Chúng không dám vào làng mà đóng quân trên một giồng cát gần làng thường gọi là Gò Trụi, hay Giồng Gạch.

Nắm thời cơ địch vừa kéo đến, chưa kịp ổn định, 2 giờ sáng, nghĩa quân đột nhập tấn công vào doanh trại của chúng. Trận đánh diễn ra cực kỳ ác liệt. Càng về khuya, nghĩa quân kéo đến càng đông và hai bên đáng giáp lá cà dữ dội. Nổi bật nhất trong trận này là đốc binh Phan Tòng. Giai thoại ở Ba Tri kể rằng Phan Tòng đầu đội khăn tang mẹ (17), hăng hái chỉ huy nghĩa quân tấn công mãnh liệt bọn giặc. Trận Gò Trụi (Giồng Gạch) là trận đánh tập kích lớn từ khi giặc Pháp vào xâm lược Nam Kỳ cho đến lúc này. Paulin Vial, một sĩ quan Pháp chứng kiến trận này, đã ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường của nghĩa quân như sau: “Họ (nghĩa quân) đã cầm giáo, cầm gậy đã lao đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể nào không công nhận lòng can đảm của những người liều chết đánh giáp lá cà chống lại binh lính ta, một đội quân đã dầy dạng trên chiến trường và có súng ống đáng ghê sợ” (18). Nhân dân Ba Tri gọi đây là trận “giặc hè” vì vừa đánh vừa hè nhau lao tới. Phan Tòng đã hy sinh trong trận này (19). Đó là người anh hùng chống Pháp và là một trong những liệt sĩ đầu tiên của nhân dân Bến Tre nói chung và Ba Tri nói riêng trong trang sử chống ngoại xâm.

Mặc dù bị tập kích nặng trong đêm, sáng ngày 16-11-1867, giặc Pháp vẫn tập trung lực lượng tấn công dữ dội vào Ba Tri và Bảo Thạnh, rút về gảnh Mù U. Giặc lại tập trung cả quân thủy và quân bộ tấn công vào căn cứ này. Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau khi chống trả quyết liệt, nghĩa quân phải rút khỏi Bảo Thạnh. Giặc Pháp tiếp tục tìm mọi cách để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Do quân giặc mạnh hơn về vũ khí trang bị, còn nghĩa quân ngoài lòng yêu nước và chí căm thù giặc, chỉ có giáo mác thô sơ, nên cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã. Anh em Phan Tôn, Phan Liêm phải chạy ra Bình Thuận, nơi “tị địa” của đa số các sĩ phu lúc ấy.

Cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm bị thất bại, nhưng phong trào KCCP của nhân dân Bến Tre không vì thế mà chấm dứt. Trái lại, cuộc chiến đấu chống giặc của nhân dân vẫn tiếp tục. Nhiều tài liệu cho biết năm 1868, khắp tỉnh nơi nào nghĩa quân cũng có mặt. Nghĩa quân phong chức hàm và cấp bằng cho những ai đóng góp tiền bạc và lương thực cho họ. Bộ tham mưu được đặt trong rừng rậm, xê dịch dài theo bờ sông Ba Lai, phía đông bắc cù lao Bảo, nhất là tại Bảo An. Ngày 5-2-1868, nghĩa quân đánh đồn Hương Điểm lần thứ hai. Đồn này có vài chục lính mã tà trấn giữ dưới quyền chỉ huy của một tên đội. Tháng 7-1868, nghĩa quân lại nổi lên ở Cái Mít, tiếp đó (tháng 8) ở Phú Ngãi và Tân Điền quanh vùng Ba Tri.

Cùng thời gian này, một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn hơn do Tán Kế lãnh đạo nổ ra ở Phong Mỹ, Phong Nẫm, Ba Mỹ, Tân Xuân, vùng Ba Châu (20). Nghĩa quân của Tán Kế đã gây nhiều tổn thất cho giặc, nhưng về sau do vũ khí thô sơ, việc tổ chức trận đấu thiếu kinh nghiệm, nên lực lượng bị hao hụt dần. Cuối cùng, Tán Kế đành phải giải tán quân sĩ, cùng một số thân tín rút vào rừng ở. Kẻ gian báo tin cho giặc Pháp biết nơi ông đang ẩn náu, do đó ông bị chúng bắt đem về chém tại Giồng Trôm ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, tức ngày 21-2-1869. Giặc Pháp đã bêu đầu ông trên cột cờ chợ Châu Thới 3 ngày đêm để uy hiếp tinh thần dân chúng.

Cuộc khởi nghĩa của Tán Kế tan rã được ít lâu, thì tháng 5-1869, nghĩa quân lại nổi lên tấn công làng Đồng Xuân ở Ba Tri (21) với một lực lượng khoảng 100 người, giết chết tên cai tổng Trị và người em của hắn là một tên xã trưởng.

Cùng với việc đứng lên vũ trang khởi nghĩa, phong trào chống Pháp của nhân dân Bến Tre kỳ này còn diễn ra dưới hình thức bất tác với giặc. Nhân dân sẵn sàng hy sinh tài sản của mình, làm “vườn không nhà trống” ở những nơi thực dân Pháp chiếm đóng. Năm 1869, nhân dân làng Quới Điền, tổng Minh Phú bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi. Tháng 10, 11 năm 1870, dân làng An Thới, tổng Minh Huệ cũng bỏ làng đi nơi khác.

Ngoài các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy nói trên, diễn ra từ năm 1870 cho đến năm 1875, nhân dân một số vùng của Bến Tre còn tích cực tham gia một cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Hữu Huân trong lần khởi nghĩa này (22) chủ yếu là Định Tường, nhưng nhân dân Bến Tre đã nô nức ứng nghĩa bằng cách trực tiếp tham gia nghĩa quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, vũ khí. Để trả thù và nhằm để răn đe viên Thống đốc Nam Kỳ từng ra lệnh phạt 11 làng của Bến Tre vì đã tham gia vào phong trào khởi nghĩa của Thủ khoa Huân. Đó là các làng Bình Đại (bị phạt 3.000 francs), Châu Hưng, Nguyệt Thạnh, Phú Thuận, Lộc Thuận (bị phạt 1.000 francs), Phú Long, Phước Thuận, Thới Lai, Thọ Phú (bị phạt 500 francs), các làng An Hóa, An Hồ (bị phạt 1.000 francs) (xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân, có sự tham gia của nhân dân Bến Tre, kéo dài hơn 5 năm, đã làm cho giặc Pháp luôn bị mất ăn mất ngủ. Vì vậy, đến tháng 4-1875, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng quân sự lớn, chia làm nhiều ngã, vây đánh rất ngặt căn cứ của nghĩa quân ở Long Trì.

Sau nửa tháng chống trả quyết liệt, nghĩa quân bị tan vỡ. Nguyễn Hữu Huân thoát khỏi vòng vây, rút về Chợ Gạo, sau đó khi ông tìm cách tránh ra Bình Thuận để tiếp tục chiến đấu, thì bị giặc bắt do sự phản bội của một tên bộ hạ.

Bắt được Nguyễn Hữu Huân, tên chủ tỉnh Pháp tìm cách mua chuộc ông, nhưng ông vẫn khẳng khái cho đến phút cuối của đời mình. Ông bị giặc Pháp xử tử ở nơi giáp nước, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm Ất Hợi (19-5-1875).

Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân thất bại cũng là lúc triều đình Huế ươn hèn ký hòa ước Giáp Tuất (1874), giao trọn quyền cai trị 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Với hòa ước này, thực dân Pháp trọn quyền kiểm soát mọi mặt, tự do khủng bố các phong trào yêu nước. Từ đây, nghĩa quân tạm thời chuyển hướng đấu tranh bằng các hành động đốt phá và phản kháng lẻ tẻ: năm 1878, đốt chợ Giồng Keo làng Tân Thành, tổng Minh Thuận; năm 1879, đốt chợ Thom, làng An Thạnh, tổng Minh Đạo.

Năm 1884, cụ Nguyễn Đình Chiểu tổ chức lễ tế nghĩa sĩ Lục tỉnh tại chợ Ba Tri, hàng ngàn dân chúng quanh vùng kéo đến dự. Với tư cách là người chủ tế, cụ Đồ khăn áo chỉnh tề, đã đọc bài Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong. Khác với bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc nhằm ngợi ca những người anh hùng nông dân chân đất “cui cút làm ăn riêng lo nghèo khó” đã dũng cảm cầm vũ khí tự tạo xông lên tiêu diệt quân xâm lược ngay từ buổi đầu khi chúng đặt chân lên bờ cõi nước ta, bài văn Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong viết sau gần một phần tư thế kỷ, là một bảng tổng kết tội ác man rợ cao như núi của kẻ thù xâm lược đã gieo rắc trên vùng đất thân yêu ở phía Nam Tổ quốc, đồng thời nói lên ý chí bất khuất của nhân dân.

Hỡi ôi!

Tủi phận biên manh

Căm loài gian tặc…

Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo,

Tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.

Trải mười mấy năm chầy khốn khó, bị khảo, bị tra,

Bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên…(23)

Các cụ già ở Ba Tri kể lại rằng, sau khi đọc xong bài văn tế, cụ Đồ vì quá xúc động đã lăn ra, ngất đi, bà con phải khiêng cụ ra ngoài chạy chữa hồi lâu mới tỉnh lại. Có thể nói đây là một cuộc mít-tinh quần chúng lớn nhất của Bến Tre thời ấy, biểu thị mối căm thù sôi sục đối với bọn giặc cướp nước. Bốn năm sau, năm 1888, nhân dân Bến Tre lại một lần nữa biểu thị lòng yêu nước và căm thù giặc Pháp xâm lược của mình trong ngày đưa tang cụ Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tư liệu còn lưu lại ảnh (cả thành văn lẫn truyền miệng) cho biết trong ngày này, trên cánh đồng Ba Tri có rất nhiều học trò đưa tiễn thầy, bệnh nhân đưa tiễn người thầy thuốc tài giỏi, giàu đức độ đã cứu giúp mình và nhân dân trong vùng đưa tiễn một nhà thơ yêu nước mà họ hằng kính phục về tiết tháo và phẩm cách, cùng những người trong gia đình tiếc thương người thân đã quá cố. Đám tang cụ Đồ thật sự là một cuộc biểu dương lực lượng và ý chí chống xâm lược của nhân dân Bến Tre.

Sau đám tang cụ Đồ, phong trào kháng chiến của nhân dân Bến Tre còn kéo dài một số năm nữa với cuộc nổi dậy cuối cùng của Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày năm 1895. (24)

Vậy là từ những ngày đầu giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, nhân dân Bến Tre đã liên tục cùng với nhân dân các tỉnh tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước, cứu nhà. Trong cuộc chiến đấu mặt đối mặt với một kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt hẳn về kỹ thuật và trang bị quân sự, nhân dân Bến Tre với truyền thống kiên cường bất khuất, đã không nề hy sinh, tổn thất, quyết tâm kháng chiến, bất chấp thái độ đầu hàng, phản bội của triều đình nhà Nguyễn.

Mặc dầu phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Lục tỉnh Nam Kỳ nói chung, của nhân dân Bến Tre nói riêng, do những điều kiện khách quan và chủ quan bất lợi, trong đó nổi bật nhất là thái độ hèn nhát và đường lối thỏa hiệp, đầu hàng của triều đình Tự Đức, không đạt được mục tiêu đánh bại quân xâm lược, giữ đất giữ dân, song tinh thần chiến đấu anh dũng và kiên cường của họ đã tô thắm thêm truyền thống chống giặc giữ nước được hun đúc từ bao đời của ông cha ta.

Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Bến Tre từ 1930 đến CMT8-1945:

Từ sau năm 1925, dưới tác động của VNTNCMĐCH, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta có những bước phát triển mạnh. Trong những năm 1927, 1928, 1929, hàng chục cuộc bãi công của công dân diễn ra ở nhiều xí nghiệp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa ô-tô Avia (Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng (Thủ Dầu Một). Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh của nông dân chống cướp đất, đòi chia ruộng công, chống sưu cao thuế nặng cũng liên tiếp nổ ra tại một số tỉnh Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ cùng với một số cuộc bãi khóa của học sinh và bãi chợ của tiểu thương.

   Trong thực tiễn của làn sóng dân tộc dân chủ đang cuồn cuộn dâng lên khắp đất nước, VNTNCMĐCH không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng nữa. Một xu thế cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thật sự của giai cấp công nhân. Đáp ứng yêu cầu bức thiết đó của cách mạng, 3 tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở ba miền Trung, Nam, Bắc. Nhưng sự song song tồn tại của ba tổ chức cộng sản chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào cách mạng Việt Nam.

   Để khắc phục tình trạng đó, ngày 3-2-1930, tại Cửu Long, bên cạnh Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện Quốc tế Cộng sản, đã chủ trì cuộc hội nghị đại biểu của 3 tổ chức cộng sản, quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành một ĐCS duy nhất, lấy tên là ĐCS Đông Dương.

   Sau khi ĐCS được thành lập, việc thống nhất các tổ chức Đảng ở các nơi trong nước lập tức được triển khai. Tại Nam Kỳ, ngay trong tháng 2-1930, Ban lâm thời chấp ủy (tức Xứ ủy) đã được cử ra, gồm 4 đồng chí, do đồng chí Bách (tức Ngô Gia Tự) làm Bí thư. Sau đó, Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định các tỉnh ủy lâm thời để lãnh đạo phong trào và xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở.

   Tại Bến Tre, tháng 4-1930, thực hiện quyết định của XUNK về việc xây dựng cơ sở Đảng ở đây, Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho đã cử một Ban cán sự gồm 3 đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Văn Trí về hoạt động.

   Ban cán sự đã phân công đồng chí Nguyễn Văn Ân phụ trách cù lao Bảo, đồng chí Nguyễn Văn Trí phụ trách cù lao Minh, đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách chung. Hai đồng chí Nguyễn Văn Trí, và Nguyễn Văn Ân chọn Tân Xuân (cù lao Bảo) và Bình Khánh, Phước Hiệp (cù lao Minh), là những nơi có nhiều hội viên để gầy dựng cơ sở Đảng trước, từ đó sẽ phát triển dần tổ chức ra tỉnh.

   Cuối tháng 4-1930, trên cơ sở những năm đảng viên được kết nạp cùng với số đảng viên được chuyển từ VNTNCMĐCH sang, đồng chí Nguyễn Văn Ân đã thay mặt Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho thành lập chi bộ đầu tiên của Bến Tre tại xã Tân Xuân (Ba Tri), gồm 11 đảng viên (1) do đồng chí Trần Văn An làm bí thư. Đây là hạt nhân lãnh đạo cách mạng đầu tiên của tỉnh.

   Sau ngày thành lập, chi bộ Tân Xuân đi ngay vào hoạt động, tổ chức các buổi diễn thuyết bí mật, rải truyền đơn, treo cờ Đảng, tuyên truyền đường lối cách mạng trong quần chúng, tổ chức các đoàn thể: nông hội, công hội, thanh niên…

   Ngày 1-5-1930, nhân ngày Quốc tế lao động, chi bộ tổ chức một cuộc biểu dương lực lượng tại địa phương, thu hút trên 200 người tham dự. Cuộc biểu tình đầu tiên này đã tạo được khí thế cách mạng trong quần chúng.

   Tháng 6-1930, Liên tỉnh ủy Bến Tre – Mỹ Tho được thành lập, do đồng chí Nguyễn Thiệu làm Bí thư. Liên tỉnh ủy ra tờ báo Dân cày (2) làm cơ quan tuyên truyền, và cử đồng chí Nguyễn Thiệu sang Bến Tre hoạt động. Tại đây, sau cuộc biểu tình ngày 1-5, tuy địch bố ráp liên miên, nhưng nhờ nắm vững nguyên tắc hoạt động bí mật, nên tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng vẫn tồn tại và phát triển. Số xã có đảng viên ngày một tăng. Đến tháng 6-1930, Bến Tre đã có thêm chi bộ ghép ở Phú Lễ và Phú Ngãi.

   Được tổ chức và lãnh đạo, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố của quần chúng bắt đầu nổ ra nhiều nơi. Kỷ niệm ngày Công xã Paris (18-3), các xã Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Châu Bình đều có tổ chức mít-tinh, biểu tình. Phong trào lan ra các xã Bảo Thạnh, Mỹ Chánh và đến cả thị xã.

   Ở cù lao Minh và An Hóa, ở các xã trước đây có hội viên VNTNCMĐCH hoạt động, phong trào cũng phát triển khá nhanh. Đến tháng 10-1930, toàn tỉnh Bến Tre đã có 7 chi bộ ở 2 cù lao Minh và Bảo và một số đảng viên hoạt động rải rác ở các xã.

   Giữa lúc phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của nhân dân trong tỉnh đang phát triển, thì trên phạm vi cả nước thực dân Pháp cũng đang tập trung sức đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng, nhất là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

   Trước tình hình ấy, tháng 10-1930, Ban chấp hành TƯĐCS chủ trương phát động một phong trào đấu tranh chống khủng bố trắng, ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh.

   Thực hiện chủ trương trên, Đảng bộ Bến Tre liên tiếp tổ chức các cuộc mít-tinh, biểu tình trong những tháng cuối năm 1930 đầu năm 1931. Mở đầu là cuộc biểu tình của hơn 1.000 quần chúng ở vùng Ba Châu (Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới) do đồng chí Huỳnh Khắc Mẫn (Mười Mắn), Bí thư chi bộ Châu Bình và đồng chí Nguyễn Thiệu lãnh đạo nổ ra vào tháng 11-1930. Quần chúng với giáo, mác, gậy, gộc kéo đến trụ sở xã Châu Bình, hô vang các khẩu hiệu cách mạng, sau đó kéo vào đập phá nhà việc, đốt hết sổ sách của hội tề. Từ Châu Bình, quần chúng tiếp tục kéo đến phá trụ sở 2 làng Châu Phú, Châu Thới, tổ chức mít-tinh kêu gọi đấu tranh “giành chính quyền”.

   Sau sự kiện này, bộ máy cai trị của địch ở ba xã bị lung lay. Chúng chưa hết hoang mang thì một cuộc biểu tình quy mô lớn diễn ra trên địa bàn hai huyện Ba Tri, Giồng Trôm, bao gồm các xã: Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Ba Mỹ, Phước Tuy, Bảo Thạnh, Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới, Phong Nẫm, Phong Mỹ, do các đồng chí Nguyễn Thiệu, Huỳnh Khắc Mẫn, Nguyễn Văn Trước, Nguyễn Văn Ân lãnh đạo.

   Lực lượng biểu tình gồm trên 1.000 người, có vũ trang giáo mác, gậy gộc, chia làm hai cánh: cánh thứ nhất tập trung tại xã Tân Xuân, cánh thứ hai tập trung ở Châu Bình; mỗi cánh đều có tổ chức đội tự vệ chặt cây ngăn lộ, phá đường, cản địch đến đàn áp. Họ kéo vào các nhà việc, đốt sổ sách. Bọn tề xã hoảng sợ bỏ trốn.

   Để đối phó, nhà cầm quyền thực dân tập trung lực lượng lính sen đầm từ Mỹ Tho, Lương Quới, Giồng Trôm, Ba Tri kéo đến đàn áp. Tại Ba Tri, đội tự vệ của ta đã chống cự kịch liệt với lính địch ở ngã ba lộ Quẹo (Tân Xuân). Địch dùng súng bắn xả vào đoàn biểu tình, làm chết và bị thương một số người, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Ngươn, đội trưởng đội tự vệ, và bắt đi một số người khác.

   Ở Giồng Trôm, địch phục kích bến đò Phong Nẫm, bắt được một số cán bộ lãnh đạo trong đó có đồng chí Nguyễn Thiệu, Bí thư Liên tỉnh ủy Mỹ Tho – Bến Tre. Sự khủng bố của địch làm cho nhiều cơ sở cách mạng bị bể, bị tiêu hao, phong trào trong tỉnh giảm sút nghiêm trọng.

   Trước tình hình trên, Liên tỉnh ủy Mỹ Tho – Bến Tre tập trung chỉ đạo các chi bộ ở các xã nhanh chóng củng cố tư tưởng của cán bộ đảng viên nhằm giữ vững phong trào. Đến tháng 1-1931, truyền đơn, biểu ngữ lại xuất hiện ở một số nơi trong tỉnh. Tiếp đến tháng 2-1931, hai cuộc biểu tình nổ ra ở Long Mỹ và Bình Thành (Ba Tri) với hơn 1.000 người tham gia.

   Từ tháng 3 đến tháng 5-1931, phong trào lên đến đỉnh cao với 16 cuộc biểu tình lớn nhỏ, nổ ra ở khắp các nơi trong tỉnh như Tân Thủy, Tân Hưng, Tân Xuân, Châu Bình, Long Mỹ, Bình Thành thuộc quận Ba Tri; Phú Nhuận, Phước Long thuộc quận Châu Thành; An Thạnh, An Qui thuộc quận Thạnh Phú; Lộc Thuận thuộc quận An Hóa.

   Tháng 5-1931, Tỉnh ủy Bến Tre chính thức được thành lập, do đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn làm Bí thư. Sau khi thành lập, Tỉnh ủy bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh lại tổ chức, củng cố các cơ sở Đảng ở địa phương, nhưng lại vấp phải một đợt khủng bố mới của địch. Chúng đánh phá phần lớn các cơ sở, bắt đi nhiều cán bộ, trong đó có các đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Bí thư Tỉnh ủy (7-1931) và Nguyễn Văn Trước (5-1932). Tỉnh ủy bị tan rã. Hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Cuối năm 1932, phong trào trong tỉnh bị suy yếu và lắng dần.

   Tình hình này kéo dài cho đến năm 1935. Lúc này trên thế giới và trong nước xảy ra những sự kiện mới có ảnh hưởng đến phong trào cách mạng cả nước nói chung và phong trào cách mạng của Bến Tre nói riêng.

   Trên thế giới, bọn phát xít Đức, Ý, Nhật ráo riết chuẩn bị chiến tranh đe dọa hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ở Pháp, ĐCS liên minh với Đảng Xã hội, Đảng Cấp tiến thành lập Mặt trận Nhân dân Pháp (tháng 11-1935). Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 4-1936, Mặt trận Nhân dân Pháp đã giành được thắng lợi và lên cầm quyền, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp ban bố một số cải cách dân chủ đối với thuộc địa, trong đó chủ trương ân xá chính trị phạm và thành lập một phái đoàn Quốc hội Pháp đi điều tra tình hình ở các thuộc địa.

   Sự kiện đó đã tác động mạnh đến Đông Dương. Bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương, trước sức ép của Chính phủ Mặt trận Nhân dân và phong trào Dân chủ ở Pháp, đã phải miễn cưỡng thực hiện việc ân xá chính trị. Nhiều đảng viên, cán bộ của ta bị giam ở các nhà tù đế quốc được thả ra.

   Trong bối cảnh chung ấy, ở Bến Tre, đến năm 1936, số đảng viên cốt cán ra khỏi tù, trở về địa phương tương đối đông. Về tới địa phương, các đồng chí đã tìm bắt liên lạc với nhau để khôi phục lại các cấp lãnh đạo của Đảng ở trong tỉnh. Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của các đồng chí, trong một thời gian ngắn, các chi bộ Đảng được khôi phục ở thị xã và các xã Tân Xuân, Mỹ Chánh Hòa, Vĩnh Hòa, Phú Ngãi thuộc quận Ba Tri; Phước Long, Bình Chánh thuộc quận Châu Thành; Định Thủy, Khánh Thạnh Tân, An Thạnh thuộc quận Mỏ Cày. Cuối năm 1936, Tỉnh ủy Bến Tre được củng cố lại, do đồng chí Nguyễn Văn Triều (tức Ba Chà) làm Bí thư. Đến năm 1937, hai Quận ủy Thạnh Phú và Mỏ Cày được thành lập.

   Tỉnh ủy chủ trương đưa một bộ phận đảng viên có uy tín ra hoạt động công khai và bán công khai trong các hội Ái hữu của thợ cưa, thợ cắt tóc, các hội thể dục thể thao, vạn cấy để hướng dẫn các tầng lớp quần chúng tham gia đấu tranh cách mạng.

   Tỉnh ủy xuất bản tờ báo Cờ chiến đấu làm cơ quan tuyên truyền công khai, phổ biến các sách báo của Đảng và lưu hành rộng rãi tờ báo Dân chúng, tổ chức các buổi diễn thuyết nhằm phổ biến chủ trương của Đảng trong quần chúng lao động.

   Vào giữa năm 1936, nhân việc Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp dự định cử một phái đoàn sang Đông Dương điều tra tình hình, thu thập nguyện vọng quần chúng, TƯĐCS đã phát động một cuộc vận động đòi triệu tập Đông Dương Đại hội thông qua bản “thỉnh nguyện” chung.

   Hưởng ứng cuộc vận động, tại Bến Tre, tháng 7-1936, “Ủy ban hành động” của tỉnh được thành lập, để tập hợp quần chúng đưa kiến nghị và bầu đại biểu đi dự đại hội. Đến cuối năm 1936, các “Ủy ban hành động” được thành lập ở đều khắp các quận và ở nhiều xã. Trong giai đoạn này, phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ đã nổ ra liên tục trong tỉnh.

   Chủ trương sáng suốt và kịp thời này đã đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang cao trào mới, hết sức sôi sục. Những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương, các căn cứ địa cách mạng được thành lập. Phong trào ở Nam Kỳ cũng phát triển mạnh được thành lập. Phong trào ở Nam Kỳ cũng phát triển mạnh sau cuộc đảo chính của Nhật. Ngày 25-6-1945, XUNK họp hội nghị tại một địa điểm ở Mỹ Tho, ra nghị quyết chỉ đạo các địa phương khẩn trương chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa.

   Chấp hành nghị quyết của XUNK, và xuất phát từ tình hình cụ thể của tỉnh, Tỉnh ủy Bến Tre đã đề ra nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh công tác tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, sẵn sàng đón thời cơ, giành chính quyền.

   Ngay từ tháng 4-1945, Tỉnh ủy đã chủ trương mở rộng tổ chức Việt Minh vào tầng lớp tiểu tư sản ở thị xã, lôi cuốn công chức, trí thức vào Mặt trận. Các tổ chức Cứu quốc phát triển tương đối nhanh, nhất là trong các tầng lớp công nhân, nông dân, đội quân chủ lực của cách mạng. Đến tháng 7-1945, các nghiệp đoàn có tới 900 người, nông hội thu hút được 7.000 hội viên, riêng quận Ba Tri có tới 3.000.

   Tỉnh ủy cũng chú trọng công tác vận động binh lính địch, cử nhiều cán bộ có uy tín và năng lực bí mật thâm nhập vào các tổ chức thân Nhật, tổ vận động lôi kéo một số người đứng về phía cách mạng.

   Trong các tổ chức quần chúng công khai, thì Đoàn Thanh niên tiền phong là tổ chức thu hút được đông đảo thanh niên trí thức, công chức, học sinh. Vì vậy, Tỉnh ủy quyết định nắm lấy tổ chức này để biến thanh niên thành lực lượng xung kích trong cuộc Tổng khởi nghĩa sắp tới, bằng cách đưa cán bộ cốt cán vào nắm các chức vụ thủ lãnh (3).

   Ở nông thôn, thanh niên tích cực luyện tập võ nghệ, rèn dao găm, mã tấu. Ở các thị trấn như Ba Tri, Mỏ Cày, Sóc Sãi, Thạnh Phú, hàng trăm cuộc mít-tinh, biểu tình có hàng ngàn người tham gia, đã diễn ra.

   Khoảng cuối tháng 7-1945, Tỉnh ủy triệu tập hội nghị mở rộng tại ngã tư Giồng Dầu (ngã tư Phú Khương ngày nay). Sau khi kiểm điểm công tác chuẩn bị khởi nghĩa, hội quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa (4) do đồng chí Nguyễn Tẩu phụ trách.

   Với sự nỗ lực của Ủy ban khởi nghĩa, chỉ trong một thời gian ngắn vừa tổ chức vừa luyện tập, đến trước ngày Tổng khởi nghĩa, các đội Cứu quốc quân trong tỉnh đã có tới hàng ngàn đội viên. Như vậy, với thời gian trên 3 tháng chuẩn bị, lực lượng cách mạng trong tỉnh bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã sẵn sàng, chỉ cần có thời cơ là sẽ đứng lên giành chính quyền.

   Và thời cơ đó đã đến.

   Ngày 12-8, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Ở Đông Dương, quân đội Nhật hoang mang, tê liệt. Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim giải thể. Tin phát xít Nhật đầu hàng nhanh chóng truyền đi khắp nước cùng với mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa phát ra từ Đại hội Quốc dân Tân Trào làm nức lòng người.

   Ngày 19-8, cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi ở thủ đô Hà Nội. Ngày 23-8, cách mạng thành công ở Huế. Sự thành công nhanh chóng của các cuộc khởi nghĩa ở thủ đô Hà Nội, Huế đã cổ vũ và thôi thúc mạnh mẽ Đảng bộ và nhân dân Bến Tre đứng lên hành động. Lúc này (ngày 23-8) ở Bến Tre, đại biểu của Tỉnh ủy đi dự hội nghị do XUNK triệu tập chưa về đến, nhưng căn cứ vào diễn biến của tình hình chung, Ủy ban khởi nghĩa đã ra lệnh cho các quận huy động lực lượng quần chúng kéo về áp sát thị xã, đồng thời ra lệnh cho các đoàn thanh niên tại thị xã phải túc trực ở trụ sở, chuẩn bị sẵn sàng hành động.

   Đêm 23-8, theo kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa, khắp nơi trong tỉnh trương biểu ngữ, phát truyền đơn kêu gọi nhân dân nổi dậy lật đổ chính quyền bù nhìn, thiết lập chính quyền cách mạng.

   Ngày 24-8, Mặt trận Việt Minh tỉnh ra công khai tại câu lạc bộ thị xã (5). Bọn cầm đầu ngụy quyền không dám có thái độ chống đối.

   Trưa ngày 25-8, nhân cơ hội tên cò Lắm – chỉ huy trưởng lực lượng bảo an ninh thị xã – đến trụ sở Việt Minh xin phép đi xuống địa phương thu gom vũ khí của bọn cai tổng và hội tề ở Mỏ Cày, Ủy ban khởi nghĩa ra lệnh cấp tốc khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa nổ ra lúc16 giờ cùng ngày.

   Với sức mạnh quật khởi, lực lượng quần chúng khởi nghĩa đã nhất tề xông lên với giáo mác, tầm vông tràn tới chiếm trại Bảo an ninh, buộc chúng phải nộp vũ khí đầu hàng. Sau đó lực lượng khởi nghĩa đã nhanh chóng tiến chiếm các công sở, tòa án, bưu điện, kho bạc, nhà máy điện, bót cảnh sát… Trước khí thế của quần chúng khởi nghĩa, quân Nhật và bọn tay sai, không dám chống cự. Tỉnh trưởng bù nhìn Phan Văn Chỉ buộc phải đầu hàng và xin giao chính quyền cho cách mạng. Bộ máy ngụy quyền tay sai Nhật sụp đổ. Chính quyền về tay nhân dân lúc 17 giờ, sớm hơn thời gian dự định trong kế hoạch.

   Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở thị xã có ảnh hưởng quyết định đến cuộc khởi nghĩa ở các huyện. Ngày 23-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Bình Đại (lúc này còn thuộc Mỹ Tho). Ngày 25-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Mỏ Cày. Đêm 25 rạng 26-8, khởi nghĩa tiếp tục thắng lợi ở Sóc Sãi, Thạnh Phú, Châu Thành, Ba Tri.

   Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công nhanh chóng trong toàn tỉnh. Ngày 26-8, Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Bến Tre làm lễ ra mắt đồng bào trong một cuộc mít-tinh long trọng được tổ chức tại sân vận động thị xã.

    Cách mạng tháng Tám thành công là bước nhảy vọt vĩ đại, đánh dấu một cuộc biến đổi cực kỳ to lớn, một cuộc đổi đời trong lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử nhân dân Bến Tre nói riêng. Từ chỗ là người nô lệ, nhân dân Bến Tre cũng như nhân dân cả nước đã trở thành người làm chủ đất nước đã trở thành người làm chủ đất nước, quê hương, làm chủ vận mệnh của mình. Vì vậy CMT8-1945 thực sự là ngày hội lớn của toàn thể nhân dân trong tỉnh. Và từ đây, nhân dân Bến Tre sẽ cùng nhân dân cả nước quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để gìn giữ nền độc lập vừa mới giành được.

Phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX:

Sau khi cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược qui mô lớn cuối cùng ở vùng Lục tỉnh – cuộc khởi nghĩa Long trì do Nguyễn Hữu Huân và Võ Duy Dương lãnh đạo bị thất bại, và tiếp theo đó thực dân Pháp gấp rút thiết lập bộ máy cai trị kiềm kẹp với sự tiếp tay của tầng lớp địa chủ “tân trào”, phong trào khởi nghĩa chống Pháp xâm lược và chống phong kiến phản bội, đầu hàng của nhân dân Nam Kỳ nói chung, Bến Tre nói riêng, có tạm thời lắng xuống (1). Nhưng chẳng bao lâu sau đó, vào những năm đầu thế kỷ XX, nhân dân Nam Kỳ lại tiếp tục đứng lên cùng đồng bào cả nước, tiến hành cuộc đấu tranh nhằm đánh đổ sự thống trị của thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.

Trong phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Nam Kỳ nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng, trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, nổi bật nhất là hoạt động của tổ chức hội kín Thiên Địa hội.

Thiên Địa hội vốn là một tổ chức vừa mang tính chất tương tế, vừa mang tính chất chính trị của nông dân Trung Quốc, được hình thành từ sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ. Hội có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, khẩu hiệu chính trị là: “phản Thanh phục Minh”. Khi du nhập vào Nam Kỳ, hội này hoạt động mạnh trong giới người Hoa, nhất là trong số mới di cư đến làm ăn vào những năm cuối thế kỷ XIX (còn có tên gọi khác là hội Tam hợp). Sang đầu thế kỷ XX, Thiên Địa hội Nam Kỳ của Hoa kiều đã tích cực đóng góp tiền bạc cho phong trào cách mạng do giai cấp tư sản Trung Quốc lãnh đạo.

Người Nam Kỳ, nhất là những nông dân lưu tán và dân nghèo thành thị, xin vào hội rất đông để nhẹ bớt phần nào cuộc sống cơ cực dưới chính quyền thực dân Pháp, và để tìm ở đó nguồn động viên cho tình cảm yêu nước không có điều kiện bộc lộ. Người Việt vào hội đã thành lập một chi nhánh riêng. Thiên Địa hội của người Nam Kỳ vẫn giữ tục lệ cũ, nhưng thay đổi khẩu hiệu “phản Thanh phục Minh” thành “phản Pháp phục Nam”.

Vào đầu thế kỷ XX, hội kín ở Nam Kỳ càng phát triển mạnh và đặc biệt mạnh vào những năm xảy ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Lý do là vì, dưới chính sách bóc lột của thực dân Pháp từ đầu thế kỷ XX và chính sách động viên nhân tài vật lực của chúng trong những năm chiến tranh, người nông dân Nam Kỳ phải nếm trải một sự cùng khổ tột bực. Trong khi đó, cuộc vận động cách mạng của các sĩ phu yêu nước ở đây lại tương đối yếu, không đủ sức tập hợp nông dân để đấu tranh trực diện với kẻ thù. Trong tình hình ấy, người nông dân Nan Kỳ phải tìm cho mình một lối thoát. Và họ đã tìm thấy ở các hội kín do Hoa kiều du nhập một hình thức hoạt động phù hợp với hoàn cảnh của họ, và một chừng mực nào đó có thể giải quyết được tình cảm yêu nước thiết tha, niềm căm hờn sâu sắc kẻ cướp nước. Hình thức hoạt động thần bí của các hội kín lại rất phù hợp với đức tính can trường và mạo hiểm, thích thuật số của người Nam Kỳ lúc ấy. Vốn giàu lòng yêu nước và có tinh thần bất khuất cao, những nông dân Nam Kỳ nhanh chóng biến hội kín thành hình thức hoạt động phổ biến để đấu tranh với địch.

Thành phần tham gia hội kín, ngoài nông dân là lực lượng đông đảo nhất, còn có những người vô nghề nghiệp tức là nông dân bị bần cùng hóa phải bỏ nông thôn đi lưu tán. Ngoài ra là dân nghèo thành thị như tiểu thương, những người làm nghề tự do (cắt tóc, chữa xe đạp, khuân vác, chạy hàng v.v…), những công nhân thất nghiệp. Một thành phần khác tuy ít hơn nhưng có vai trò quan trọng, đó là những người làm nghề phương thuật như thầy phù thủy, thầy ngải, thầy tăng, thầy tướng số, thầy bói.

Tuy nhiên, tư tưởng yêu nước và tình hữu ái giai cấp ấy đã chịu ảnh hưởng rất đậm của hệ tư tưởng và đạo đức phong kiến pha màu thần bí. Trong tất cả các lời thề đều nhắc tới vua, đều nhấn mạnh lòng trung thành với vua. Họ mơ ước được sống dưới triều đại phong kiến thịnh trị như thời Nghiêu Thuấn. “Ông vua” mà họ tôn sùng lúc đầu là Phan Xích Long, về sau là Cường Để. Phan Xích Long theo quan niệm của họ, là “ông vua” được thần, Phật chỉ định và phù trợ, lại có pháp thuật cao cường.

Ngoài ra, tư tưởng và tình cảm của hội viên hội kín còn bị pha trộn thêm nhiều nhân tố hỗn tạp khác, nhu đạo đức Khổng Mạnh, thuyết báo ứng của nhà Phật và nhiều điều dị đoan khác.

So với nhiều nơi khác, Bến Tre là một trong những hội kín phát triển mạnh. Tại đây, tháng 2-1916, xuất hiện hội kín của Lê Văn Khanh tức Tư Khanh. Ở Giồng Trôm, năm 1916, phong trào hội kín Thiên Địa hội phát triển ở các xã Châu Hóa, Bình Chánh, Phước Long, Tân Thanh, Tân Hào. Ở Thạnh Phú, tổ chức hội kín Thiên Địa hội cũng thu hút được nhiều người tham gia.

Hoạt động nổi nhất của hội kín Thiên Địa hội ở Bến Tre là cuộc tấn công vào làng Tân Phú Tây, tổng Minh Thiện, quận Mỏ Cày năm 1916. Trước ngày Tết Nguyên đán, một toán lối 50 người dưới sự chỉ huy của một người tên là Nguyễn Văn Đáng – tên thường gọi là Tám Đáng – và một phù thủy tên là thầy Chín Sửu, đã xông vào nhà cựu hương cả Trần Trung Bình làng này, để buộc Bình giao cho cây súng mà y đang giữ. Trần Trung Bình trốn thoát, họ bắt đứa con trai của y làm con tin, sau đó tiến vào chợ Ba Vát, đập phá hai tiệm buôn, rồi bao vây nhà cửa cựu chánh tổng Minh Thiện và phó tổng Lê Phước Toản. Trong khi đó, một toán khác lối 100 người đánh chiếm nhà việc làng Tân Phú Tây. Lúc bắt đầu cuộc tấn công, họ nổi trống báo cho nhân dân biết là họ đi đánh người Pháp, để mọi người khỏi khiếp sợ. Tân chủ quận đưa lính sen đầm đến đàn áp, Nguyễn Văn Đáng bị bắt (2).

Ngoài các phong trào lớn kể trên, thời kỳ này ở Bến Tre còn có những nhân sĩ trí thức, quan lại yêu nước và tiến bộ tham gia phong trào yêu nước chống Pháp bằng việc sáng tác, hoặc giảng dạy thơ văn kích động lòng yêu nước căm thù giặc trong nhân dân. Đáng chú ý là những hoạt động của Nguyễn Đình Chiêm, Nguyễn Văn Vinh, Sương Nguyệt Anh, Nguyễn Dư Hoài, Hà Đăng Đàng v.v…

Cùng với các phong trào chống Pháp của các nông dân và các nhân sĩ trí thức yêu nước và tiến bộ kể trên, ở Bến Tre còn có nhiều cuộc đấu tranh của các tầng lớp xã hội khác nữa.

Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, năm 1919, ở Bến Tre cũng như ở Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh lỵ khác, đã nổ ra phong trào “tẩy chay hàng hóa của khách trú”. Về thực chất, cuộc tẩy chay này phản ánh sự xung đột quyền lợi giữa hai cấp tư sản Việt Nam mới nổi lên với các thế lực tư bản nước ngoài cạnh tranh với họ. Song mũi nhọn của cuộc đấu tranh này mới chỉ chĩa vào tư bản Hoa kiều, mà chưa dám chĩa vào tư bản thực dân Pháp. Trong khi đó, chính quyền thực dân lợi dụng cuộc đấu tranh này vào mục đích đánh lạc hướng nhân dân Việt Nam, nhất là đám thanh niên thành thị, hướng sự chú ý của họ không phải vào chính sách khai thác thuộc địa qui mô lớn và sự bóc lột, vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp, mà vào các hoạt động của thương nhân người Hoa, đồng thời gây áp lực buộc bọn này phải nộp thêm hàng triệu đồng bạc thuế cho chúng.

Sau cuộc “tẩy chay khách trú”, năm 1923 tư sản và điền chủ lớn ở Nam Kỳ lại phát động cuộc chiến tranh chống việc một công ty tư bản Pháp, được nhà cầm quyền thuộc địa ủng hộ, định giành lấy độc quyền xuất nhập khẩu ở cảng Sài Gòn. Đông đảo thanh niên trí thức tư sản và tiểu tư sản ở Sài Gòn, Bến Tre và một số tỉnh Nam Kỳ đã tham gia vào cuộc đấu tranh này. Được sự ủng hộ của quần chúng, cuộc đấu tranh đã có tiếng vang tới chính giới bên Pháp. Kết quả là chính quyền thuộc địa buộc phải tạm gác lại, chưa thi hành nghị quyết của Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ về vấn đề trên.

Đến cuối năm 1925, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Bến Tre lại hưởng ứng mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu đang bị thực dân Pháp giam giữ tại nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội.

Trước sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân, thực dân Pháp buộc phải xóa án cho Phan Bội Châu (trước đó đã bị kết án khổ sai chung thân). Cuộc đấu tranh này đã làm thất bại âm mưu nhà cầm quyền Pháp định lợi dụng bản án Phan Bội Châu để uy hiếp tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

Vào năm 1926, nhân dân Bến Tre tiếp tục cuộc đấu tranh yêu nước của mình bằng hành động tích cực tham gia vào việc tổ chức lễ tang và lễ truy điệu Phan Châu Trinh – một chí sĩ yêu nước nổi tiếng trong phong trào Duy Tân. Đám tang được tổ chức tại Sài Gòn. Mười bốn vạn người của Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Biên Hòa, Mỹ Tho, Bến Tre… gồm đủ mọi tầng lớp học sinh, trí thức, nhà kinh doanh, công nhân, người lao động nghèo đưa Phan Châu Trinh về nơi an nghỉ cuối cùng. Sau đám tang, tại tỉnh lỵ Bến Tre cũng như ở khắp Trung, Nam, Bắc, nhân dân tiếp tục tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước.

Đám tang và lễ truy điệu Phan Châu Trinh thực sự là một cuộc đấu tranh chính trị chống thực dân Pháp, một cuộc biểu dương tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự do của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng.

Vào những năm 1927-1928, nhân dân Bến Tre, trước hết là nông dân nô nức hưởng ứng cuộc vận động chống Pháp của Nguyễn An Ninh. Từ đó xuất hiện cái gọi là phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh – hay theo danh từ thường gọi là “Thanh niên cao vọng hội” – phát triển khá mạnh. Thực ra Hội kín Nguyễn An Ninh chính là biến tướng của tổ chức hội kín Thiên Địa hội đã có từ trước. Đây là kết quả của sự gặp nhau giữa một bên là tổ chức quần chúng không có lãnh tụ – tổ chức Thiên Địa hội, và một bên là lãnh tụ không có tổ chức quần chúng – Nguyễn An Ninh. Cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ, hoạt động của các cơ sở Hội kín Nguyễn An Ninh ở Bến Tre đã gây cho thực dân Pháp nhiều lo ngại. Nhưng Hội kín Nguyễn An Ninh chưa có tôn chỉ mục đích rõ ràng, tổ chức lại không chặt chẽ, nên năm 1929, khi ông bị bắt lần thứ hai tại Bến Lức (3) và bị kết án 3 năm tù ở, thì phong trào cũng tan vỡ nhanh chóng.

Tất cả các phong trào đấu tranh nói trên của nhân dân Bến Tre cùng với phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước là những đòn đả kích mạnh mẽ vào chế độ thuộc địa của thực dân Pháp. Tuy nhiên, các phong trào quần chúng thời kỳ này vẫn chưa được hướng dẫn bởi một đường lối cứu nước đúng đắn, chưa được đặt dưới sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến, vì vậy hiệu quả của các cuộc đấu tranh mang lại còn thấp, có nhiều hạn chế, chưa đạt được những mục tiêu đề ra là độc lập dân tộc và cải thiện dân sinh.

Nhưng cũng từ những năm 1925-1926 trở đi, ở Bến Tre cũng như ở Sài Gòn và các tỉnh khác ở Nam Kỳ đã bắt đầu nhen nhóm một phong trào yêu nước mang màu sắc mới được sự soi rọi bởi một đường lối cứu nước đúng đắn – con đường cách mạng vô sản – do Nguyễn Ái Quốc, người con ưu tú nhất của dân tộc mang lại. Phong trào yêu nước ấy được thực hiện thông qua hoạt động của một tổ chức lấy tên là VNTNCMĐCH do chính Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào tháng 6-1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc).

VNTNCMĐCH là đoàn thể cách mạng mới có xu hướng mácxít, một tổ chức tiền thân của ĐCS trong tương lai. Mục đích của Hội là “làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)” (4).

Từ năm 1926, VNTNCMĐCH bắt đầu có cơ sở trong nước. Kỳ bộ Nam Kỳ của VNTNCMĐCH được thành lập vào năm 1927 với những cán bộ lãnh đạo như Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Phát. Đến đầu năm 1929, Kỳ bộ Nam Kỳ đã được tổ chức được ba thành bộ và tỉnh bộ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho với 10 chi bộ và 12 hội quần chúng công, nông, binh, phụ ở nhiều nơi.

Ở Bến Tre, tổ chức của Hội được hình thành và hoạt động vào khoảng cuối năm 1926 đầu năm 1927. Vào khoảng thời gian này, tỉnh bộ VNTNCMĐCH được thành lập do đồng chí Hoài Nghĩa làm Bí thư, trụ sở đặt tại hiệu ảnh Tướng Quán đường Clémenceau tại thị xã Bến Tre (5).

Tháng 9-1927, đồng chí Hoài Nghĩa đến Ba Tri tổ chức ra nhiều chi bộ VNTNCMĐCH ở Tân Xuân, An Đức, An Hiệp, Mỹ Nhơn, Phú Lễ, An Bình Tây. Cũng trong thời gian này, chi bộ thị xã được tổ chức do đồng chí Phạm Văn Minh (tức Thả) làm Bí thư. Sau đó tổ chức của Hội phát triển nhanh chóng sang Mỏ Cày và Bình Đại. Ở Mỏ Cày, các chi bộ Phước Hiệp, Bình Khánh, An Thạnh, Tân Thành Bình. Ở Bình Đại, có các chi bộ Thới Thuận, Lộc Thuận. Các chi bộ hoạt động dưới sự chỉ đạo thống nhất của Tỉnh bộ VNTNCMĐCH với nội dung chủ yếu trước mắt là tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho quần chúng để phát triển thêm hội viên mới.

Từ năm 1926, theo chỉ thị của Kỳ bộ Nam Kỳ, Tỉnh bộ VNTNCMĐCH Bến Tre đã cử những thanh niên ưu tú sang Quảng Châu dự lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng, do Nguyễn Ái Quốc mở và trực tiếp huấn luyện. Trong số này có Nguyễn Văn Phát, sau khi học xong được kết nạp vào Cộng sản đoàn, về nước tham gia vào Ban chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ.

Hoạt động của các chi bộ VNTNCMĐCH từ năm 1926 đã tạo tiền đề về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng bộ Cộng sản Bến Tre vào đầu năm 1930.

Buổi đầu khai phá – xây dựng:

Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai – Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng “ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” (1). Trên đất Bến Tre, việc khai khẩn ruộng vườn của cư dân tại chỗ – người Khmer – chỉ tập trung chủ yếu trên các giồng đất cao như Sóc Sãi, giồng Ông Giang, giồng Nâu, ở cù lao Bảo, giồng Văn, giồng Võ, Đa Phước, An Thạnh, Ba Vát ở Cù Lao Minh.

Những vùng đất thấp khác hầu như đều là rừng rậm hoang vu, như tác giả Gia Định thành thông chí đã mô tả: “Phía Nam trấn (Định Tường) một dặm, trước kia là rừng hoang làm hang cho hùm beo ở” (2). Cho đến những năm cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, theo Chuyên khảo tỉnh Mỹ Tho, vùng cù lao An Hóa vẫn còn cọp và dọc theo sông lớn có nhiều khỉ (3). Nhưng cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ nói chung, kể từ thế kỷ XVII trở đi, bộ mặt vùng đất Bến Tre bắt đầu biến đổi mạnh khi có sự xuất hiện một lớp dân cư mới – lưu dân người Việt và lưu dân người Hoa.

Vùng đất Bến Tre được xác nhập vào lãnh thổ Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII, nhưng lưu dân người Việt đã đến đây ở từ trước đó khá lâu. Có thể coi đó là một đặc điểm chung ở nhiều vùng đất khác ở Nam bộ, Jules Sien đã nhận xét rất đúng rằng: “Trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó những tổ chức. Những nhóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở chung với người Cao Miên” (4).

Những lưu dân người Việt đến vùng Bến Tre trong những năm cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII hầu hết là những người từ các tỉnh miền Trung. Họ gồm nhiều thành phần khác nhau, nhưng đông đảo nhất vẫn là những nông dân nghèo khổ lại phải gánh chịu nạn chiến tranh phong kiến liên miên giữa hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong. Họ buộc phải rời bỏ quê hương đi tìm đất sống. Thành phần đông đảo thứ hai là những người trốn lính và lính trốn, những tù nhân bị lưu đày viễn xứ. Ngoài những thành phần đông đảo kể trên, còn có một số người có tiềm lực kinh tế, có kinh nghiệm sản xuất, những người có óc phiêu lưu mạo hiểm ở miền Thuận Quảng – những người mà Lê Quý Đôn gọi là “dân có vật lực” – theo lời kêu gọi của chúa Nguyễn, họ muốn thử thời vận, làm giàu, vào đây để mở rộng việc kinh doanh tạo nên sản nghiệp mới.

Trong những lưu dân người Việt từ các tỉnh miền Trung đến đất Bến Tre, có một số lớn đi thẳng từ quê hương của họ đến đây theo đường biển bằng phương tiện ghe bầu. Trong các thế kỷ XVII, XVIII, đường bộ từ miền Thuận Quảng vào đất Nam Kỳ còn rất khó khăn, nguy hiểm. Một số khác đã vào vùng Biên Hòa, Bến Nghé, Vũng Gù trước đó, nhưng vì chưa tìm được những điều kiện thuận lợi để bám trụ, nên phải tiếp tục đi tới và hội tụ về đất Bến Tre. Số người này có thể đã tới đây bằng cả hai cách, hoặc di chuyển theo đường bộ, hoặc theo đường thủy.

Cũng như các vùng đất khác trên đất Đồng Nai – Gia Định, những lưu dân người Việt đến Bến Tre theo cách thức: hoặc lẻ tẻ từng cá nhân, từng gia đình, hoặc họp lại thành nhóm gồm những người bà con thân thuộc hay làng xóm láng giềng, hoặc một số người đi trước tìm chỗ cư trú, làm ăn rồi quay về đưa gia đình, bà con thân thuộc, hàng xóm láng giềng vào tiếp. Nếu như các cuộc di chuyển bằng đường thủy có thể đi một mạch, thì những cuộc di chuyển bằng đường bộ thường diễn ra từng chặng.

{mospagebreak}Những người đến bằng đường biển đã theo cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông vào định cư trước tiên ở những vùng đất cao dọc theo các con sông lớn.

Ngoài các dải đất ven sông, những người mới đến cũng đã chọn các khu đất giồng để định cư và khai phá như Ba Vát, Thom, Giồng Luông, Đa Phước (ở cù lao Minh), Tiên Long, Tiên Thủy, An Hội, Mỹ Lồng, Cái Bông (ở cù lao Bảo), vì môi trường tự nhiên ở đây tương đối thuận lợi so với nơi khác, đất tốt, không bị lầy lội.

{mospagebreak}Cùng với lưu dân người Việt, vào cuối thể kỷ XVII, trên đất Bến Tre, ít nhất là cù lao An Hóa, còn có số lưu dân người Hoa thuộc nhóm Dương Ngạn Địch cư trú. Nhóm này cùng với nhóm Trần Thượng Xuyên (khoảng 3.000 người) là bộ phận quân nhà Minh ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, bất phục triều đình Mãn Thanh chạy sang Việt xin tỵ nạn, được chúa Nguyễn an sáp vào đất Đồng Nai – Gia định. Nhóm Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Biên Hòa, còn nhóm Dương Ngạn Địch thì đến định cư ở Mỹ Tho. Trong nhóm thứ hai này, chắc chắn đã có một số sang cư trú ở cù lao An Hóa, nhất là vùng đối diện với Mỹ Tho, ở các ấp ven sông Ba Lai thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành ngày nay. Họ không lập xóm ấp riêng, mà ở chung với người Việt, về sau trở thành người Minh Hương, rồi trải qua nhiều đời thành dân bản địa (trích Lịch sử xã Phước Thạnh).

Với nhiều đợt chuyển cư liên tục diễn ra trong suốt thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ XVIII, vùng Bến Tre đã có đông người đến ở. Chính vì vậy, năm 1759, chính quyền họ Nguyễn (chúa Nguyễn) bắt đầu ban bố lệnh lập làng ở đây. Đến năm 1779, khi Nguyễn Ánh chia lại địa giới hành chính và tổ chức lại việc cai trị phủ Gia Định – tức Nam Kỳ nói chung – vùng Bến Tre được đặt thành một tổng – tổng Tân An thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Tuy gọi là tổng nhưng diện tích của nó rất rộng, gồm cả cù lao Bảo và cù lao Minh.

Đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các thôn xã đã phát triển rộng khắp từ vùng ven biển đến phía thượng nguồn của hai cù lao.

Đến vùng đất mới, những lưu dân phải bắt tay vào việc mưu tìm cách sống. Nhưng ngoài sức lao động của đôi bàn tay, họ thiếu thốn mọi thứ: phương tiện, vốn liếng, giống má, trâu bò… Cho nên ban đầu, họ chỉ có khả năng khai phá, trồng trọt trên những diện tích nhỏ bé, hoặc đi khai thác những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có, như vào rừng lấy gỗ, mây, dầu rái, mật và sáp ong, than củi, săn bắt thú để lấy thịt, sừng, da, đánh bắt tôm cá ở sông rạch… nhằm giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Tất nhiên cũng không loại trừ việc cày thuê cuốc mướn cho những gia đình khá giả. Nhưng dù sao ở nơi đất mới – như Trịnh Hoài Đức nhận xét: “Gia Định đất rộng, thực vật nhiều, không lo đói rét” (5) – cuộc sống của họ chắc chắn có nhiều phần dễ dàng hơn nơi đất hẹp người đông, người khôn của khó ở quê hương cũ. Việc khai phá trong buổi đầu này thường diễn ra dưới hình thức tập thể, từng nhóm, từng cụm, có thể gồm những gia đình có họ hàng thân thuộc, hoặc đồng hương đồng xứ, hoặc cùng chung tín ngưỡng, cùng trong họ đạo. Vùng đất mới lúc này còn rất hoang vu, xa lạ, đầy thú dữ, rắn rết, đến nỗi “con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh” như người ta thường nhắc, cho nên chỉ có dựa vào nhau, cố kết lại với nhau, thì mới tạo được một sức mạnh để đối phó với những nguy hiểm, những biến cố bất kỳ có thể xảy ra.

Trong khi đó, “những dân có vật lực” bao gồm địa chủ, phú nông, nhà nông, những người có đầu óc kinh doanh, muốn làm ăn lớn, số này chiếm tỷ lệ không lớn, nhưng họ sẵn vốn liếng, phương tiện, có kinh nghiệm tổ chức, lại được chính quyền chúa Nguyễn khuyến khích, đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, tập hợp lại thành nhóm, thành đoàn đưa vào vùng đất mới để khai hoang, sản xuất nông nghiệp.

Với bàn tay, khối óc và sự lao động cần mẫn, sáng tạo của những lớp lưu dân, bản đồ khai phá trên đất Bến Tre được mở rộng dần trong các thế kỷ XVII, XVIII. Vùng Ba Tri là một trong số nơi được khai khẩn sớm nhất, vì nơi này là điểm dừng chân đầu tiên của các lưu dân từ miền Trung đi vào theo đường biển. Ba Tri có nhiều giồng đất cao hình cánh cung, xen kẽ những cánh đồng trũng. Ở chân giồng, việc canh tác lúa vào mùa mưa khá thuận lợi, còn trên mặt đất giồng thì có thể trồng các thứ hoa màu như sắn, khoai, đậu, bắp, dưa, bí và một số loại cây cần thiết cho các ngành thủ công nghiệp như bông, vải, gai, dâu tằm… Đến đầu thế kỷ XVIII, các làng, các trại vùng này được thiết lập. Những nơi đủ dân thì lập làng, ấp, nơi nào ít dân thì họp thành trại. Một số tên trại còn lưu truyền đến ngày nay như Ba Tri cá trại, Cái Da trại… Trong số những lưu dân người Việt đến khai phá đất đai đầu tiên trong vùng, có cả nhóm tín đồ Thiên chúa giáo. Họ đã đến định cư trên giồng Cái Bông và về sau càng đông thêm. Năm 1730, họ đạo này lập ra nhà thờ Cái Bông.

Một vùng khác được khai phá cùng thời với Ba Tri là khu vực Cái Mơn, Cái Nhum nằm ở ven sông Hàm Luông, dọc theo các con rạch Cái Mơn, Cái Nhum. Số lưu dân này phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Năm 1731, một họ đạo khác ra đời ở cù lao Minh, đó là họ đạo Cái Nhum.

Ngoài ra, trên cù lao An Hóa, vùng đối diện với Mỹ Tho có thể đã được khai phá từ khi nhóm người Hoa của Dương Ngạn Địch đến định cư trong vùng và lập nên phố chợ Mỹ Tho từ năm 1679.

Trong thế kỷ XVIII, vùng được khai phá mạnh là vùng Ba Vát (sách Gia Định thành thông chí gọi là Ba Việt) trên cù lao Minh trải rộng từ Ba Vát đến Mỏ Cày, An Định và một số giồng dọc sông Cổ Chiên như giồng Phú Hựu, giồng Nâu, giồng Buồm, giồng Ao. Vùng Ba Vát đã là vùng trù phú vào bậc nhất của Bến Tre lúc ấy. Đến năm 1777, khi xảy ra cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh thì vùng này mới bị suy tàn dần.

Trên cù lao Minh vùng dọc theo sông Hàm Luông như Vĩnh Thành (Cái Mơn) thuộc huyện Chợ Lách cũng được khai phá trong thời kỳ này. Ở đây, từ rất sớm đã có nhiều vườn cây ăn trái khá sầm uất.

Được khai phá vào thế kỷ XVIII, còn có vùng ven rạch Sóc Sải, ven rạch Mỹ Lung (sông Bến Tre) trên cù lao Bảo. Sang đầu thế kỷ XIX, nơi đây đã mọc lên những khu vườn cây ăn trái khá sung túc. Hồi này, vùng Xẻo Sâu, Mỹ Lồng đã nổi tiếng là vùng trồng nhiều cau nhất ở vùng Nam Kỳ Lục tỉnh, được nhắc đến trong ca dao.

{mospagebreak}Trong thế kỷ XVIII, việc khai phá trên cù lao An Hóa lại được mở rộng tới các khu đất ven sông Mỹ Tho và sông Ba Lai, cũng như vùng ven rạch Bình Đại. Như vậy là trong thế kỷ này, vùng đất mà ngày nay gọi là Bến Tre diện tích được khai phá đã khá rộng.

Bước sang thế kỷ XIX, công cuộc khai hoang, sản xuất ở Bến Tre càng được mở rộng hơn, vì đi đôi với việc tự khai phá của nhân dân, chính quyền nhà Nguyễn cũng đứng ra tổ chức việc khai hoang, trồng trọt dưới hình thức đồn điền hoặc khai hoang, lập ấp.

Thực ra, từ cuối thế kỷ XVIII (1790), Nguyễn Ánh đã cho thi hành chính sách dùng một bộ phận binh lính và chiêu mộ dân nghèo, tiến hành khai hoang lập đồn điền, nhưng vì chiến tranh còn tiếp diễn nên chủ trương này chưa được mở rộng. Đến khi dành được chính quyền trên toàn quốc (1802), Nguyễn Ánh cho đẩy mạnh việc thành lập các đồn điền – lúc đó gọi là “trại đồn điền” – trên khắp bốn phủ thuộc Gia Định thành (tức toàn Nam Kỳ): Tân Bình, Phước Long, Kiến An, Định Viễn. Sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn, số trại đồn điền đã được lập ra đều khắp. Năm 1814, theo thống kê riêng, số dân trong các trại đồn điền – chưa kể số binh lính – đã lên đến 9.876 người. Năm 1822, con số này là 9.703 người. Riêng tại phủ Định Viễn (trong đó có huyện Tân An, tức Bến Tre ngày nay) có tất cả 14 hiệu, gồm 142 trại đồn điền với 6.174 người. Rất có thể một phần trong số 142 trại này đã được lập nên trên vùng đất Bến Tre.

Năm 1853, triều đình nhà Nguyễn lại giao cho Nguyễn Tri Phương nhiệm vụ mộ dân lập đồn điền ở sáu tỉnh Nam Kỳ dưới hình thức cơ, đội. Một năm sau (1854), theo báo cáo của Nguyễn Tri Phương, có 21 cơ đã lập xong và 4 cơ đang hình thành (6). Riêng tỉnh Vĩnh Long, có 7 cơ. Đất Bến Tre lúc bấy giờ là phủ Hoằng Trị thuộc tỉnh Vĩnh Long gồm 4 huyện Bảo Hựu, Bảo An, (cù lao Bảo) Tân Minh, Duy Minh (cù lao Minh). Ở các huyện này, số dân và số diện tích khai phá được như sau (7) :

Bảo Hựu 346 người, khai phá được 1.478 mẫu
Bảo An 26 người, ” 122 mẫu
Tân Minh 371 người ” 1.390 mẫu
Duy Minh 110 người, ” 651 mẫu

Như vậy, thời gian này đã có từ 2 đến 3 trong số 7 cơ đồn điền của tỉnh Vĩnh Long được lập ra trên đất Bến Tre, với 853 người dân và diện tích khai phá được là 3.640 mẫu.

{mospagebreak}Điều đáng tiếc là không có tài liệu nào ghi rõ địa điểm của các cơ được lập ra trên đất Bến Tre. Chỉ biết rằng, tại Hương Điểm (huyện Giồng Trôm nay) còn một số địa danh như Đội Ba, Đội Năm, Đội Bảy, các nơi này có thể là địa bàn của các đội đồn điền trước kia. (8)

Bên trên là việc lập đồn điền. Còn việc mộ dân khai hoang lập ấp thì triều đình nhà Nguyễn vừa giao trách nhiệm cho quan lại địa phương, vừa khuyến khích những người có khả năng, có vốn liếng, phương tiện thực hiện. Chủ trương này được triển khai khá mạnh trên toàn Nam Kỳ lục tỉnh, trong đó có tỉnh Vĩnh Long bao gồm Bến Tre. Trong số 124 ấp được lập ở 6 tỉnh Nam Kỳ năm 1854 có 60 ấp nằm ở tỉnh Vĩnh Long. Các ấp này thường được thành lập ở những nơi mà việc khai hoang không mấy khó khăn và không nằm quá xa các làng mạc có trước. Vì thế, tuy ta không biết được trong số 60 ấp đó, có bao nhiêu ấp nằm trên đất Bến Tre và ở những vị trí cụ thể nào, nhưng có thể tin chắc là có nhiều ấp được lập ra ở đây.

Đến năm 1856, quan tỉnh Vĩnh Long lại mộ được 690 người, lập thêm 41 ấp nữa, nhưng tài liệu này cũng không nói rõ số ấp được lập trên hai cù lao Bảo và Minh là bao nhiêu. Chính vì việc khai phá được mở rộng dẫn đến việc hình thành thêm nhiều thôn ấp, cho nên vào năm 1808, tổng Tân An (tức Bến Tre ngày nay) được nâng lên thành huyện, gồm hai tổng: tổng An Bảo nằm trên cù lao Bảo có 63 thôn và tổng Tân Minh nằm trên cù lao Minh có 72 thôn. Đến đời Minh Mạng (năm 1823), huyện Tân An lại được nâng lên thành phủ, mang tên phủ Hoằng An. Các tổng Tân Minh, An Bảo được nâng lên thành huyện Tân Minh và huyện Bảo An.

Sự mở rộng công cuộc khai phá luôn luôn gắn liền với việc dân số gia tăng, dân số càng đông tất yếu dẫn đến qui mô khai phá càng được mở rộng. Theo những số liệu thống kê vào đầu thời Pháp thuộc, thì vào năm 1859, Bến Tre đã có khoảng 110.000 dân (9). Đến năm 1869, khi vùng đất Bến Tre đã lọt vào tay quân Pháp, thì dân số vùng này đã lên tới 156.704 người (9).

Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, Bến Tre đã là một trong những nơi được khai phá nhiều nhất trong sáu tỉnh Nam Kỳ. Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ XIX, trước khi Bến Tre lọt vào tay quân Pháp, diện tích đất trồng trọt trên hai cù lao Bảo và Minh đã lên đến 88.522 mẫu, tức khoảng 44.200 ha.

Tư liệu lịch sử cho biết, trên những đất đai đã khai phá được, người nông dân – lưu dân Bến Tre đã trồng nhiều loại cây khác nhau tùy theo điều kiện đất đai mỗi nơi, trong đó cây lúa là loại cây trồng chính. Thoạt tiên, họ làm ruộng lúa ở chân các giồng nơi cư trú, rồi về sau theo đà gia tăng dân số, họ mở rộng diện tích canh tác lúa đến cả những cánh đồng thấp trũng, sình lầy. Ruộng ở nơi cao như ven các giồng thường được gọi là “sơn điền” (ruộng núi), còn ruộng ở nơi trũng thấp, ngập nước vào mùa mưa thì được gọi là “thảo điền” (ruộng cỏ). Trên hai loại chủ yếu đó người nông dân – lưu dân Bến Tre, cũng giống như lưu dân ở nhiều vùng khác thuộc Đồng Nai – Gia Định, đã áp dụng những kỹ thuật canh tác khác nhau.

Cau Mỹ Lồng khá nổi tiếng, được Trịnh Hoài Đức nhắc đến: “Có những vườn cau đứng rậm như rừng, quả lớn lại sai” (10). Trong khi đó, vùng Cái Mơn lại tập trung nhiều vườn cây ăn quả. Các nhà truyền giáo đã đưa vào đây nhiều giống cây ăn trái mới lạ, gốc ở một số nước Đông Nam Á như chà là, dừa lùn, sabôchê, chôm chôm…

Cùng với việc khai phá đất đai lập thành ruộng vườn, lưu dân ở Bến Tre cũng phát triển nhiều nghề thủ công như đan lát, dệt chiếu, đóng ghe thuyền, đan lưới, làm muối nhằm đáp ứng một số nhu cầu thiết yếu trong đời sống. Trong số các ngành nghề thủ công ở đây, ngành dệt vải, dệt lụa, dệt chiếu, chế biến thực phẩm phát triển nhất. Từ đầu thế kỷ XIX, Ba Tri đã là nơi nổi tiếng về nghề dệt lụa. Một số địa phương khác như Mỹ Lồng, Sơn Đốc, Châu Bình thì nổi danh với nghề chế biến thực phẩm: “Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, mắm còng Châu Bình…”.

Sự phát triển mạnh mẽ việc khai hoang sản xuất nông nghiệp và một số ngành nghề thủ công đã đưa tới sự ra đời một mạng lưới chợ búa khá sầm uất làm nơi trao đổi lương thực, thực phẩm, các mặt hàng thủ công, hàng tiêu dùng giữa các cư dân trong vùng. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, đến giữa thế kỷ XIX, ở Bến Tre đã có 10 chợ lớn, khá sầm uất, phân bố như sau:

– Huyện Tân Minh có chợ Ba Vát.

– Huyện Duy Minh có chợ Hội An.

– Huyện Bảo Hựu có các chợ Sóc Sãi, An Đức, Mỹ Lồng, Lương Điền.

– Huyện Bảo An có các chợ Bình Hòa, Hưng Thạnh, Hưng Nhượng, An Bình Đông, Vĩnh Đức(11).

Vậy là từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, trong khoảng hai thế kỷ rưỡi – một thời gian lịch sử không dài lắm – mà bộ mặt vùng đất Bến Tre đã thay đổi hẳn: từ một vùng đất hoang vu, xứ sở của rừng rậm, sình lầy, thú dữ, rắn rết, cá sấu… đã trở thành một vùng ruộng vườn tươi tốt. Đó là kết quả của bao mồ hôi, công sức, cả máu và nước mắt của những lưu dân buổi đầu và các thế hệ con cháu tiếp sau của họ. Cho nên chính họ mới là người chủ thực sự đã kiến tạo nên vùng đất trù phú này.

{mospagebreak}Tuy nhiên, một điều nghịch lý đã xảy ra là không phải những người khai phá được tận hưởng toàn bộ thành quả lao động ấy. Ngay những mảnh đất nhỏ nhoi mà họ khai phá được bằng sức đôi bàn tay của mình cũng không phải vĩnh viễn thuộc về họ. Bởi vì như trên đã nói, để mở rộng nhanh chóng công cuộc khẩn hoang ở vùng đất mới, nhằm tạo ra tiềm lực kinh tế vững mạnh đủ sức đối chọi với họ Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã khuyến khích những người “dân có vật lực” miền Thuận Quảng vào Nam mở mang công việc làm ăn. Những người “dân có vật lực” này sẵn vốn liếng và kinh nghiệm tổ chức, đã đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, lập thành lực lượng lao động lớn.

Không những thế, theo Lê Quý Đôn, họ còn “thu cả con trai, con gái người Mọi (Thượng) ở các đầu nguồn, đem về làm nô tì, người đen tóc quăn là người Mọi thực giá tiền 20 quan, hơi trắng giá chỉ 10 quan, cho tự lấy nhau, sinh đẻ nuôi nấng thành người cày ruộng, làm nghề nghiệp” (12). Nhờ lực lượng đông đảo ấy, những người “dân có vật lực” đã nhanh chóng khai phá được những diện tích đất đai rộng lớn, trở thành những điền chủ nhiều thế lực. Trong sách Phủ biên tạp lục , Lê Quý Đôn cho biết: “Người giàu ở các địa phương (chỉ vùng Đồng Nai – Gia Định – BS) hoặc 40, 50 nhà, hoặc 20, 30 nhà, mỗi nhà điền nô hoặc đến 50, 60 người, trâu bò hoặc đến 300, 400 con, cày bừa, cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 11, tháng 12, thường giã thành gạo, bán lầy tiền để ăn tết chạp… Bình thường chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc, lụa tĩnh, trừu đoạn, áo quần tốt đẹp” (13). Số điền chủ giàu có này trở thành chỗ dựa xã hội của chế độ phong kiến họ Nguyễn. Họ không chỉ giữ vai trò quan trọng về kinh tế, mà còn nắm giữ cả quyền lực chính trị ở địa phương. Chính sách của nhà Nguyễn lại tạo thêm những thuận lợi cho tầng lớp điền chủ nói trên cùng với bọn chức việc làng, xã, tổng, huyện kiêm tính ruộng đất công và ruộng đất của nông dân nghèo, mở rộng điền sản, phát triển thêm một bước chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam Kỳ.

Thiệu Trị khi lên làm vua, đã ban hành chỉ dụ cho phép số phú hào mộ dân khẩn đất và được quyền ưu tiên chiếm giữ những ruộng đất tốt nhất, lại còn ban thưởng tiền bạc, chức tước: “Ai mộ được 5 xuất đinh, khẩn được 50 mẫu trở lên được thưởng 20 quan, mộ được 10 suất đinh, khẩn được 100 mẫu, được thưởng 40 quan… Ngoài ra còn được thưởng hàm tòng cửu phẩm và cho làm lý trưởng. Tùy vào số ruộng và số đinh, việc tặng thưởng có thể nâng lên đến hàm chánh bát phẩm và bổ thụ chánh tổng” (14).

Được sự khuyến khích nâng đỡ của chính quyền họ Nguyễn, tầng lớp điền chủ ở Đồng Nai – Gia Định nói chung, Bến Tre nói riêng, tha hồ cấu kết với bọn quan lại địa phương, đã dùng mọi thủ đoạn để cướp đoạt ruộng vườn của những người nông dân nghèo khổ, cô thế. Nhận xét của Trương Đăng Quế khi ông được Minh Mạng biệt phái vào Nam tiến hành việc đo đạc ruộng đất để lập địa bạ (năm 1836) đã nói lên mức độ nghiêm trọng của tình hình này: “Nam Kỳ chứa chất tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm, người nghèo không đất cắm dùi. Có kẻ ở xã này chiếm ruộng đất ở xã khác, mà người xã sở tại lại phải tá ngụ để cày cấy”.

Thủ đoạn kiêm tính của điền chủ và cường hào ở đây không chỉ đụng tới những mảnh đất nhỏ bé của nông dân nghèo, mà còn bao chiếm cả ruộng công làng xã – loại ruộng đất dùng để tạm cấp cho dân làng theo chính sách “quân điền” dù rằng ở Đồng Nai – Gia Định kể cả Bến Tre, số lượng đất này chiếm tỉ lệ ít ỏi. Báo cáo của tỉnh thành Gia Định gửi về triều năm Minh Mạng thứ 21 (1840) ghi rõ: “Trong hạt không có ruộng công, các nhà giàu bao chiếm ruộng đất từ hàng trăm năm, hàng ngàn mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy” (15).

Ở hai huyện Bảo An và Tân Minh (tức cù lao Bảo và cù lao Minh), vào những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, đã có 21 điền chủ có số ruộng đất trên 100 mẫu, trong khi đó số có từ 30 mẫu trở lên có 705 người.

Còn về phía người nông dân nghèo, thì ngoài việc bị bọn điền chủ cướp đoạt ruộng đất, sau đó với thân phận tá điền (16), họ cày thuê cuốc mướn để kiếm sống, lại còn bị Nhà nước phong kiến bòn rút thông qua thuế khóa hà khắc. Chính quyền phong kiến đặt ra hàng loạt thứ thuế khác nhau: thuế ruộng, thuế đinh, thuế tàu thuyền, thuế sản vật… Chỉ riêng thuế sản vật, người dân Đồng Nai – Gia Định trong đó có Bến Tre, thường phải nộp từ thuế vườn dừa, vườn cau đến thuế các loại lâm sản khai thác được như gỗ, sáp ong, trầm hương… Riêng khoản đóng góp này đã khá nặng như Lê Quý Đôn nhận xét: “Hết thảy các sản vật đều lấy ở xã, thôn, phường, khi thì nộp thuế, khi thì trưng mua. Những phiền phí về sự đốc thúc, lao động, vận tải làm cho dân địa phương không thể nào kham nổi” (17). Thêm vào đó, người nông dân còn bị bọn quan lại các cấp nhũng nhiễu đủ cách, nào là phụ thu lạm bổ, nào là đòi hối lộ hoặc bắt phục dịch việc riêng. Ngoài thuế khóa hà khắc, chính quyền phong kiến họ Nguyễn đôi khi còn cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của dân – trước hết là của nông dân nghèo, những người không chút thế lực – để ban cấp cho những kẻ có công trạng trong việc khôi phục và củng cố quyền thống trị của họ.

Chính sách áp bức, bóc lột của chính quyền phong kiến và tầng lớp điền chủ đã làm cho cuộc sống của người nông dân lao động ở Đồng Nai – Gia Định, trong đó có Bến Tre, nhanh chóng bị bần cùng hóa, bị phá sản, khiến ở một nơi nổi tiếng màu mỡ và trù phú, số “cùng dân” lại ngày càng tăng lên. Tình hình nghiêm trọng đến nỗi năm Gia Long thứ 18 (1819), đám quan lại ở Gia Định đã phải đề nghị lên triều đình khi lập “Sổ cùng dân” (tức là sổ thống kê số dân nghèo khổ nhất), không nên theo lệ “thập đinh nhất cùng” – tức là tính bình quân cứ 10 người dân có một người cùng khổ – mà phải cho kê khai cụ thể thì mới nắm được số liệu chính xác. Kết quả là trong vòng 1 năm trên toàn vùng Đồng Nai – Gia Định (gồm cả Bến Tre) đã bổ sung thêm được 16.155 người. Nếu so sánh với con số “cùng dân” này với tổng số dân đinh ở Gia Định vào thời điểm đó (khoảng 80.000 người) ta sẽ thấy rõ tình trạng phân hóa giai cấp ở đây diễn ra nghiêm trọng đến mức nào.

{mospagebreak}Bị phá sản, phải lâm vào cảnh bần cùng, một bộ phận nông dân nghèo khó lại phải bỏ làng, bỏ quê một lần nữa để đi tìm con đường sống ở một địa phương khác, có khi là để trốn nợ. Thế là tình trạng nông dân “tái lưu tán” lại diễn ra, và mỗi ngày một trầm trọng đến mức năm 1789, sau khi lấy lại Gia Định lần cuối, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cho các nơi chiêu dụ dân lưu tán trở về đất cũ làm ăn.

Như vậy, mâu thuẫn giữa một bên là tập đoàn thống trị phong kiến cùng bọn điền chủ và một bên là nông dân nghèo trở thành mâu thuẫn cơ bản gay gắt nhất của xã hội vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung, đất Bến Tre nói riêng, nó chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là bùng nổ. Và cơ hội đó đã đến với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn.

Mùa xuân năm 1776, sau 5 năm đánh bại phong kiến họ Nguyễn ở vùng Thuận Quảng, nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục kéo quân vào tận Gia Định, thừa thắng đánh chiếm luôn cả 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Lần đầu tiên, lá cờ chiến thắng của những người nông dân khởi nghĩa cắm trên đất Gia Định. Cuộc tiến quân thắng lợi của nghĩa quân Tây Sơn vào đất Gia Định lần này chắc chắn không thể thiếu được một yếu tố rất quan trọng là sự ủng hộ và hưởng ứng nồng nhiệt của người nông nghèo Gia Định, trong đó có người nông dân Bến Tre, những người đã từ lâu nung nấu niềm bất mãn đối với chính quyền phong kiến họ Nguyễn.

Tiếp sau lần tiến quân đầu tiên năm 1776, nghĩa quân Tây Sơn còn liên tiếp 4 lần tiến quân vào Gia Định (tính đến năm 1784), và lần nào cũng được nông dân ở đây hưởng ứng và tích cực giúp đỡ hoặc trực tiếp tham gia.

Sự hưởng ứng và ủng hộ của nông dân Gia Định, đối với nghĩa quân Tây Sơn được thể hiện rõ nét nhất trong trận tiêu diệt quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, năm 1785. Trong trận này, các xã Tân Lợi, Phú Long, Phú Túc, Phú Đức nằm ven bờ nam sông Tiền (nay thuộc huyện Châu Thành) đã được nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ chọn làm một trong những địa bàn ém quân cho đòn đánh vu hồi hiểm hóc của trận quyết chiến chiến lược, nhận chìm toàn bộ chiến thuyền với gần 4 vạn quân Xiêm và hàng ngàn quân của Nguyễn Ánh. Ngoài ra, nhân dân vùng ven sông Ba Lai còn ủng hộ, giúp đỡ quân của Trương Văn Đa chống quân Xiêm và quân Nguyễn có hiệu quả.

Chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn, trong đó có sự đóng góp của người dân Bến Tre, có ý nghĩa hết sức to lớn, đến nỗi chính sử của nhà Nguyễn cũng phải thừa nhận rằng sau trận đánh này “người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”. Cùng với nhân dân Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, nhân dân Bến Tre đã góp phần vinh dự của mình trong chiến thắng lịch sử này, làm thất bại hoàn toàn âm mưu xâm lược nham hiểm của phong kiến Xiêm núp dưới chiêu bài giúp Nguyễn Ánh.

Ngoài việc hưởng ứng và giúp đỡ nghĩa quân Tây Sơn, nông dân Bến Tre cũng như nông dân toàn vùng Đồng Nai – Gia Định, còn bộc lộ sự bất mãn của mình đối với chính quyền họ Nguyễn qua việc tham gia tích cực vào cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi vào năm 1833. Bất bình về thái độ đối xử của triều đình nhà Nguyễn mà tiêu biểu là Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt cùng tay chân bộ hạ của họ Lê sau khi ông này qua đời, Lê Văn Khôi – con nuôi của Lê Văn Duyệt – đã đứng ra tập hợp những người bất mãn mà phần lớn là binh lính trong các đơn vị quân đội gọi là “hồi lương” và “bắc thuận” nổi dậy chiếm thành Phiên An, chống lại triều đình. Như vậy, cuộc nổi dậy này bắt nguồn từ mâu thuẫn nội bộ của tập đoàn phong kiến, nhưng vì nó chĩa mũi nhọn vào chính quyền phong kiến nhà Nguyễn cho nên lập tức nó được sự hưởng ứng rộng rãi và nhiệt tình của đa số nông dân nghèo vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung và Bến Tre nói riêng, những người mà từ lâu ôm ấp trong lòng khát vọng mong muốn có sự đổi thay xã hội để cuộc sống được dễ thở hơn. Tình hình đó khiến cho chỉ trong vòng 1 tháng, lực lượng nổi dậy do Lê Văn Khôi cầm đầu đã làm chủ được cả sáu tỉnh Nam Kỳ, làm lung lay trong một thời gian các cơ đồ thống trị vốn đã mục nát của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn.

Sự hưởng ứng mạnh mẽ và tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nghĩa quân Tây Sơn chống quân xâm lược Xiêm và bè lũ bán nước Nguyễn Ánh và cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi chống lại triều đình nhà Nguyễn đã nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Bến Tre, mà trước hết là nông dân. Tinh thần chống áp bức bóc lột, chống ngoại xâm bảo vệ quyền sống, bảo vệ quê hương đất nước diễn ra khá mạnh mẽ ngay trong quá trình chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khăn khai phá đất đai, sản xuất để tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới.

Nguồn: www.bentre.gov.vn

Dấu ấn lịch sử phong trào Đồng khởi Bến Tre

Cuộc Đồng Khởi Bến Tre đã qua đi 55 năm (17/1/1960-17/1/2014), những người trong cuộc, những nhân chứng lịch sử, thế hệ hôm nay của Bến Tre và cả mai sau luôn nhớ về thời khắc lịch sử “Đồng Khởi Bến Tre”: Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đế quốc Mỹ và tay sai đã đàn áp, đánh phá khốc liệt phong trào cách mạng trong tỉnh. Có thể nói đây là giai đoạn máu và nước mắt. Trên địa bàn Bến Tre, chúng xây dựng bộ máy chính quyền từ tỉnh, quận, tổng, hội đồng xã, ấp, đến ngũ gia liên bảo; quản lý nhân dân ta bằng phân loại từng gia đình theo “quốc gia”, lừng chừng, theo “Việt cộng”. Chúng hình thành các tổ chức đảng phái như Đảng cần lao, nhân vị; phong trào cách mạng quốc gia; thanh niên cộng hòa, phụ nữ cộng hòa và xây dựng 4 khu trù mật, trên 300 đồn bót ở khắp các địa bàn. Đồng thời, liên tục đánh phá cơ sở cách mạng, đàn áp, bắn giết những người kháng chiến và đồng bào ta vô cùng dã man, tàn ác, không trừ một thủ đoạn thâm độc nào. Có thể nói, đêm trước Đồng khởi nổ ra, trên 3 dãy cù lao xứ dừa là một cảnh tượng điêu tàn, đổ nát, nhân dân Bến Tre sống trong cảnh máu và nước mắt, tang tóc, đau thương không sao kể siết. Lòng căm thù giặc sôi trào, dồn nén trong lòng mọi người.

5344_1612015_7752.jpg
Đội quân tóc dài (huyện Mỏ Cày) tham gia đấu tranh trong phong trào Đồng Khởi năm 1960. (Ảnh TL)

 Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương, cuối năm 1959 đầu năm 1960 nhân dân ta ở miền Nam đã vùng lên khởi nghĩa đồng loạt phá kìm. Nhất là dưới sự lãnh chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre, hàng vạn đồng bào đã đoàn kết, chung lòng, sáng tạo với sự kết hợp phương châm “hai chân, ba mũi giáp công”, làm nên cuộc Đồng Khởi long trời lở đất trên quê hương Bến Tre vào ngày 17/1/1960. Cao trào Đồng Khởi tại ba xã (Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp – huyện Mỏ Cày) tỉnh Bến Tre bùng lên thành ngọn lửa, thành phong trào lan rộng ra cả huyện, cả tỉnh, ở các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, đặc biệt làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch.

Phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử truyền thống cách mạng Việt Nam, được nhân dân cả nước và một số nước trên thế giới biết đến; được xem là một sự kiện lịch sử trọng đại, một dấu son chói lọi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mốc son lịch sử mà quá trình phong trào Đồng khởi Bến Tre làm nên, khi nhìn lại và đánh giá về nó, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội đã viết và nói: … “Nhân dân miền Nam đã vùng lên như triều dâng thác đổ, đã chuyển sang thế tiến công với phong trào “Đồng Khởi” mở đầu từ Bến Tre, thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng để lãnh đạo cuộc đấu tranh cho đến thắng lợi hoàn toàn. Bước đầu vào đầu những năm sáu mươi, cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân ta nhằm đánh đổ chính quyền tay sai Mỹ và thống nhất đất nước đã khiến bọn xâm lược Mỹ phải thú nhận: “Việt Nam là nơi duy nhất trên thế giới mà chính quyền Mỹ phải đương đầu với một cố gắng phát triển rất tốt của Cộng sản nhằm lật đổ một chính phủ thân phương Tây”” (Trích “Nước Việt Nam là một dân tộc Việt Nam”. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam – Viện sử học -Nxb Khoa học xã hội, 1976 – trang 207 – 208).

5344_1612015_7753.jpg
Súng ngựa trời do công binh xưởng tỉnh Bến Tre tự chế, dùng trong phong trào Đồng Khởi năm 1960. (Ảnh TL)

Trong bài Tổng kết của đồng chí Hoàng Văn Thái – Ủy viên Thường trực Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng tại Hội nghị tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tỉnh Bến Tre từ ngày 12 đến 17/7/1982 có đoạn viết: … “Phong trào Đồng Khởi Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ – Diệm, rõ ràng phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu; nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam và xứng đáng đựợc gọi là quê hương Đồng Khởi với tất cả nội dung và tính chất của nó”.

Trong “Thư vào Nam của đồng chí Lê Duẩn – Nxb Sự thật – Hà Nội, 1995” chú thích 4, trang 396 – 397, trích thư của đồng chí Lê Duẩn – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương gửi đồng chí Mười Cúc về phong trào “Đồng Khởi”: “… Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương, cuối năm 1959 đầu năm 1960 nhân dân ta ở miền Nam đã vùng lên khởi nghĩa đồng loạt…. Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy ở hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt, đêm 17/1/1960, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó làn sóng “Đồng Khởi” như nước vỡ bờ tràn lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh ở Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ. Trong phong trào nổi dậy của quần chúng, các lực lượng vũ trang cách mạng đã ra đời và phát triển. Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” là bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi cục diện cách mạng miền Nam, là thất bại lớn đầu tiên của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam nước ta. Chính trong cao trào cách mạng đó, ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời…”.

Trong sách tư liệu lịch sử “Những chặng đường thắng lợi vẻ vang” tác giả Phạm Văn Đồng – Nxb Sự thật, Hà Nội. 1985 (trang 444), Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết về Đồng Khởi Bến Tre “… Những chuyển biến cách mạng to lớn ở miền Nam được tạo ra do phong trào Đồng Khởi của quần chúng và nhân dân miền Nam cuối năm 1959 đầu năm 1960. Phong trào này bắt đầu từ tỉnh Bến Tre và nhanh chóng lan rộng khắp miền Nam. Giữa tháng 1 năm 1960, cuộc khởi nghĩa đồng loạt nổ ra tại ba huyện Minh Tân, Mỏ Cày, Thạnh Phú làm cho bộ máy kìm kẹp của địch bị tan rã, nhiều xã được hoàn toàn giải phóng. Qua cuộc Đồng Khởi này, trung đội giải phóng quân đầu tiên của Bến Tre đã đảm đương nhiệm vụ cùng nhân dân đẩy mạnh đấu tranh chính trị và quân sự, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, bảo vệ quyền làm chủ, phát huy những thắng lợi đã giành được”…

5344_1612015_7754.jpg
Lực lượng du kích Bến Tre trong những ngày đầu Đồng Khởi ở Bến Tre 1960. (Ảnh TL)

Trong phim tư liệu “Bến Tr Đồng Khởi”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói về cuộc Đồng Khởi nổi tiếng ở Bến Tre: “… Theo tôi biết chị Ba Định cùng nhân dân và Đảng bộ Bến Tre đấu tranh trong những năm ác liệt nhất, chị kiên cường bất khuất, là người phụ nữ đã tham gia lãnh đạo cuộc Đồng Khởi nổi tiếng ở Bến Tre. Cũng trong thời gian đó hình thành sự đấu tranh rất sáng tạo, rất mới là trước sự khủng bố ác liệt như vậy, mà có thể nói hình thành được đội quân tóc dài, kết hợp chính trị, quân sự, binh vận làm thất bại âm mưu của địch, bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền lợi của nhân dân ta. Nhắc đến việc làm đó mình cũng thấy rằng như vậy là có thể địch cắm đồn bót nơi này nơi kia nhưng mà lòng dân là theo Cụ Hồ. Cho nên đây là một hình thức, là một nghệ thuật vận động toàn dân, mà đây là đàn ông, mà đây là phụ nữ, trẻ con, tất cả đều tham gia cả, những hình thức này có thể là độc đáo…”.

Đánh giá về những bài học kinh nghiệm từ Đồng Khởi Bến Tre 1960, cố Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) đã đánh giá cao sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm khi vận dụng Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng của Tỉnh ủy và nhân dân Bến Tre trong phong trào Đồng Khởi tại địa phương và những bài học kinh nghiệm từ Đồng Khởi Bến Tre năm 1960 (Bản chép từ băng ghi âm lưu ở kho lưu trữ của Văn phòng Tỉnh ủy Bến Tre ngày 17/7/1982): “… Sau cái tết đầu năm 1960, ta đưa phong trào nổi dậy ở nhiều nơi trong đó có Bến Tre…. Lúc bấy giờ Xứ ủy chúng tôi rất vui mừng mà nói, băn khoăn thì bây giờ Bến Tre đã tìm ra được cái phương thức này đây! Lập tức chúng tôi đem cái kinh nghiệm này phổ biến chỉ đạo cho các nơi áp dụng để làm. Và sau đó mới có cái từ là Đồng Khởi. Và qua Đồng Khởi mà xây dựng ba lực lượng: lực lượng quân sự, lực lượng chính trị và lực lượng binh vận; ba mũi giáp công, mà không phải giáp công rời rạc nhau, mà giáp công ngay ở trong một cuộc đấu tranh, ba mũi giáp công ngay từ một người quần chúng. Đó là cái đặc biệt! Đây là cái thế mạnh! Thế mạnh tổng hợp mà chính từ cái thế mạnh tổng hợp đó nó phát triển lên thì nó sẽ thành ra là nổi tiếng dậy từng phần, kết hợp ba mũi giáp công và tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Chính trung ương về sau này nêu vấn đế tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên cơ sở ba mũi giáp công này, cũng là trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn của phong trào, mà trong đó cái phần đóng góp của Bến Tre là rất quan trọng…” .

5344_1612015_7755.jpg
Tái hiện hình ảnh “Đội quân tóc dài” trong phong trào Đồng Khởi năm 1960 tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. (Ảnh: QN)

Ngày 16/1/2000, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu gửi đến toàn thể đồng bào và Đảng bộ tỉnh Bến Tre nhân kỷ niệm 40 năm Đồng Khởi (17/1/1960 – 17/1/2000), trong đó có đoạn viết: “… Trong 2 năm 1959 – 1960, nhân dân miền Nam đã bất ngờ vùng dậy, 6 triệu rưỡi dân của 1.000 xã ở Nam Bộ, 4.400 thôn ở Khu 5 đã giành được quyền làm chủ dưới các mức độ khác nhau…. Trong công cuộc Đồng Khởi vĩ đại ấy, nhân dân và Đảng bộ Bến Tre là một trong những lá cờ đầu anh dũng nhất, quyết liệt nhất, mưu trí nhất, sáng tạo nhất, với đội quân tóc dài anh hùng, với lực lượng tại chỗ góp phần tạo ra một bước ngoặt chiến lược, đưa cách mạng miền Nam từ thoái trào, từ thế gìn giữ lực lượng chuyển hẳn sang thế tiến công chiến lược, làm rung chuyển và báo hiệu sự sụp đổ của chế độ thống trị của Mỹ – ngụy…”.

Ngày 16/6/1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt viết về Đồng Khởi Bến Tre: “…Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thiêng liêng của chúng ta là sự nghiệp anh hùng của một dân tộc anh hùng. Có thể nói trên cả nước ta, địa phương nào cũng anh hùng, mỗi đơn một vẻ, có những chiến công chung và có những chiến công riêng tiêu biểu cho địa phương mình rất đáng trân trọng. Người trong cuộc, tôi xin được khẳng định chiến công chống chính quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng Khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là của các chị em được mệnh danh là “Đội quân tóc dài”, những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang, phá thế kềm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong đó miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như Bến Tre (ít nhất cũng riêng của Nam Bộ). Sự Đồng Khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh nhiều địa phương khác ở Nam Bộ. Tôi có vinh dự lớn lúc đó là “người trong cuộc” và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là “Quê hương Đồng Khởi”, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bến Tre có quyền tự hào về điều này…”.

Cũng trong phim tư liệu “Bến Tre Đồng Khởi”, Thượng tướng Trần Văn Trà nói về Đồng Khởi Bến Tre: “…Cuộc Đồng Khởi 1959 – 1960 ở Nam Bộ là một giai đoạn chiến lược vô cùng quan trọng, một chuyển biến về chiến lược của cả cuộc cách mạng. Cho nên đây là mốc chiến lược đầu tiên mà ta vượt qua những khó khăn để đi lên thế ổn định. Thế thì không chỉ Bến Tre làm đồng khởi đâu, nhiều tỉnh cũng làm đồng khởi, có khi có nơi làm đồng khởi trước nữa kia. Nhưng mà Bến Tre tiêu biểu hơn ở chỗ là cuộc Đồng Khởi Bến Tre thật sự là một cuộc đồng khởi, một cuộc khởi nghĩa có nhân dân rõ ràng. Có nhân dân, tuy rằng vũ trang không có bao nhiêu, nhưng nó rất tiêu biểu ở cái chỗ huy động được toàn dân đứng lên cướp chính quyền từ một số xã rồi mới lan rộng ra các huyện cả tỉnh…”.

5344_1612015_7756.jpg
Tái hiện “Đội quân tóc dài” diễu hành qua lễ đài nhân kỷ niệm 50 năm Bến Tre Đồng Khởi. (Ảnh: QN)

Nhà sử học – giáo sư Trần Văn Giàu có bài viết  đăng trên “Báo Đồng Khởi thứ bảy số Xuân 1989” : … “Kỳ công của Bến Tre mà lịch sử hiện nay và trăm năm sau đã và sẽ khắc trên bản đồng, là cuộc Đồng Khởi năm 1960 mở đầu một cao trào vũ trang đấu tranh dài 15 năm đi đến toàn thắng của kháng chiến chống Mỹ. Tôi biết có nhiều nơi “tranh chấp” (trong số các nhà viết sử thôi) cái danh hiệu Đồng Khởi. Là một người chép sử, tôi nhận xét rằng ở mấy nơi miền Trung và miền Nam hồi đó ngay cả trước năm 1960 nữa, quả có những cuộc vũ trang đấu tranh giành quyền làm chủ, nhưng Đồng Khởi (với tên gọi của phong trào) như là cuộc nổi dậy mang tính quần chúng. Cuộc nổi dậy có tác động lâu dài, rộng lớn và đưa lại nhiều bài học kinh nghiệm rất cơ bản, là thành tích của đồng bào Bến Tre, Mỏ Cày – đại biểu xứng đáng cho cuộc quật khởi chung trên toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long. Không phải vô cớ mà Bến Tre, Mỏ Cày cũng là cái nôi sản sinh những chiến sĩ cách mạng độc đáo như tản cư ngược, như đạo quân tóc dài…, đều là những sản phẩm trực tiếp của Đồng Khởi cả…”.

Sự thật, Đồng Khởi ở Bến Tre vào ngày 17/1/1960 là rất vĩ đại, rất kỳ diệu, thần kỳ, như huyền thoại và cũng rất đại chúng, do quần chúng làm lại rất lạ, rất hay, rất tài giỏi. Nếu không phải là người cách mạng, không phải là người Cộng sản thì không làm sao làm được! Cuộc Đồng Khởi Bến Tre đã diễn ra vô cùng oai hùng, quật khởi, là một kỳ công độc đáo, khi được lĩnh hội Nghị quyết 15 của Trung ương kết hợp với nghệ thuật lãnh đạo sáng tạo, mưu trí của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Bến Tre thời bấy giờ với phương châm đấu tranh “hai chân, ba mũi giáp công” đã cùng với đồng bào Bến Tre làm nên cuộc Đồng Khởi long trời lở đất. Giờ đây, ôn lại lịch sử vẻ vang của quê hương, nhớ lại những móc son, dấu ấn lịch sử của ngọn đuốc Đồng Khởi năm 1960, mà Đảng bộ và nhân dân Bến Tre đã làm nên thời hoa lửa đó trong thời đại Hồ Chí Minh, sẽ mãi mãi chiếu sáng, vang vọng đến muôn đời sau và sẽ luôn là niềm tự hào và trở thành ngày hội truyền thống cách mạng vẻ vang của các thế hệ người dân Bến Tre.

Năm 2015, kỷ niệm 55 ngày Bến Tre Đồng Khởi (17/1/1960-17/1/2015) và cũng là năm cuối thực hiện Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ Bến Tre lần thứ IX nhiệm kỳ (2010- 2015), với chủ đề: “Phát huy tinh thần Đồng Khởi; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; tích cực huy động mọi nguồn lực; thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhanh và bền vững”. Nhân dịp này, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre ban hành Chỉ thị số 16-CT/TU về việc phát động Phong trào thi đua “Đồng khởi mới”, phong trào sẽ được phát động rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tỉnh nhà, biến tinh thần Đồng Khởi trong đấu tranh giải phóng dân tộc thành phong trào Đồng Khởi trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo ra xung lực chính trị mới, quyết tâm đưa kinh tế – xã hội tỉnh nhà phát triển nhanh, toàn diện hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Phương châm của phong trào thi đua “Đồng khởi mới” là: đẩy mạnh phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt gắn với phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Quyết tâm thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu nghị quyết năm 2015, trong đó tập trung vào 3 khâu đột phá đó là:

5344_1612015_7757.JPG
Di tích Đồng Khởi Bến Tre tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. (Ảnh: TTr)


– Xây dựng thành phố Bến Tre đạt tiêu chí đô thị loại II; đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế – xã hội để thị trấn Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày Nam trở thành đô thị loại IV; đầu tư xây dựng, nâng cấp và công nhận 20 trung tâm xã đạt chuẩn đô thị loại V.

– Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, tạo ra phong trào “Nhà nhà thi đua, người người thi đua” chung tay xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 đạt 45 xã nông thôn mới, các xã còn lại đạt ít nhất 10 tiêu chí (trong đó có tiêu chí thu nhập, giao thông nông thôn và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội).

– Tập trung xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, trọng tâm là đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến mạnh mẽ về tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, nâng cao chất lượng chi bộ.Tiếp bước và phát huy mạnh mẽ truyền thống phong trào “Đồng khởi”, thế hệ những người đang tiếp nối, tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; ra sức học tập, lao động, sáng tạo làm theo gương các thế hệ đi trước; nêu cao tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, cùng chung sức, chung lòng thi đua trong phong trào “Đồng Khởi mới”. Nhất là thấy rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình, cần phấn đấu nhiều hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa, xứng đáng nhiều hơn nữa, bằng những việc làm cụ thể hiệu quả, thiết thực trong xây dựng quê hương. Đặc biệt, là cùng đồng hành, trách nhiệm với các cấp, các ngành phát động mạnh mẽ phong trào thi đua “Đồng Khởi mới”, để người dân tỉnh nhà hiểu, cùng tham gia thực hiện có hiệu quả và đạt kết quả theo tinh thần phát động thi đua “Đồng khởi mới” của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra, để lập thành tích chào mừng các ngày lễ trọng đại của đất nước, Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Hoàng Thanh

Nguồn:http://www.bentre.gov.vn

Chuyện xứ dừa: Lãng mạn xứ dừa quê tôi

Lãng mạn xứ dừa quê tôi

 Bài 1: “Vua dừa” ở cồn Ốc

Ngày lão nông Đỗ Thành Thưởng (sinh năm 1937) trồng thêm hàng chục cây dừa trong vườn, hàng xóm lắc đầu ái ngại: Xứ này người ta đốn bỏ dừa gần hết, cớ chi ông đeo bám loài cây ngày càng xuống giá?

        Mười mấy năm sau, ông trở thành người trồng dừa nổi tiếng nhất châu Á…

       Gần một trăm năm trước, vùng cồn Ốc (xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, Bến Tre) đã bạt ngàn những rừng dừa. Loài cây có giá trị kinh tế cao này đã được người Pháp quy hoạch để khai thác tiềm năng của thuộc địa. Theo thời gian, dừa mỗi lúc một nhiều lên ở khắp vùng Bến Tre trù phú.

Ổng Đỗ Thành Thưởng

Từ trái dừa lạ…

        Ông Thưởng nhớ lại, gia đình ông đã có truyền thống trồng dừa từ thuở sơ khai đến nay. Sau ngày đất nước giải phóng, những vườn dừa bạt ngàn này tiếp tục là nguồn thu nhập đảm bảo cuộc sống cho dân cư miệt vườn.

       Năm 1993, cây dừa đột nhiên mất giá. Đi đến đâu trên khắp tỉnh Bến Tre cũng đều nghe chuyện đốn dừa để trồng cây ăn trái khác. Người ta vứt trái dừa ngổn ngang. Thân dừa chỉ để làm củi đốt vì giá thành một cây dừa làm gỗ còn rẻ hơn một bao xi măng. “Sản lượng nhiều dẫn tới dư thừa, trong khi đó giống không được cải thiện nên dừa mất vị thế. Bản thân tôi cũng phải xuống tay chặt bỏ hàng loạt cây dừa trong vườn. Chặt cây, đau không khác mình bị cưa chân mà vẫn phải làm!” – ông Thưởng nhớ lại.

       Một buổi sáng, trong lúc ra vườn để tiếp tục đốn bỏ dừa, vô tình ông hái được một trái dừa khô có hình dạng bất thường. Cuống trái dừa bè ra, chĩa ngược lên trời như cánh chim phượng đang nâng trái dừa bay cao. Lão nông Đỗ Thành Thưởng lặng người ngắm trái dừa lạ. Bất giác ông liên tưởng hay là có điềm báo cho tương lai xán lạn trở lại của cây dừa? Ông trầm ngâm nhớ lại: “Tôi ngồi nghĩ ngợi rồi phân tích, biết đâu khi người ta đốn hết sẽ nảy sinh thiếu dừa cung ứng cho thị trường. Biết đâu mình giữ lại những cây dừa này lại hay”. Vứt cây rựa, ông ào chạy đi tìm cán bộ của Viện Nghiên cứu dầu và cây có dầu Việt Nam bày tỏ nguyện vọng được hỗ trợ kỹ thuật để trồng dừa trở lại.

       Cơ duyên run rủi ông được gặp một nhân vật mà cuộc gặp gỡ này đã góp phần thay đổi rất nhiều tư duy khoa học cũng như niềm tin có thể thắng lớn với cây dừa trong ông. Đó là Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh, người đã quá nổi tiếng với các công trình bảo tồn, nghiên cứu phát triển cây trồng tại Việt Nam.

       Ông kể: “Tiến sĩ Hạnh cứ hỏi đi hỏi lại là có đúng là tôi thích trồng dừa không. Chị ấy cho giống mà còn nghi ngờ. Để hóa giải nghi ngờ, hôm sau tôi lên Sài Gòn gặp chị và thuê xe chở giống về. Cả xóm thấy vậy ai cũng ngao ngán lắc đầu, có cả những lời xầm xì lo lắng giùm tôi. Chị Hạnh nói để cây khỏe mạnh thì cây con phải được ươm trong bầu và không được làm đứt rễ, gây mất sức sinh trưởng”.

       Giống dừa ông đem về là loài lai dừa cao Tây Thi và dừa lùn Malaysia. Niềm tin và tình yêu cây dừa lại quay về trong trái tim lão nông một đời gắn bó với dừa như một phần thân thể.

Thành công

       Thông thường một cây dừa con từ lúc trồng đến khi cho trái phải mất thời gian tối thiểu năm năm. Đó là khoảng thời gian thử thách vô cùng nghiệt ngã với ông Thưởng. Bởi lẽ kinh tế gia đình đang khó khăn, dừa không có giá cao lại phải chờ đợi quá lâu trong lúc tuổi ông đã xế chiều. Thế nhưng chính trong hoàn cảnh đó, cây dừa mới đã không phụ lòng người…

       Hai năm kể từ ngày trồng, những cây dừa trong vườn của ông cho lưỡi mèo (hoa dừa) và bắt đầu cho trái. Lão nông như không tin vào mắt mình. Từ đầu bên kia điện thoại, Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh cũng vỡ òa trong niềm vui và ngạc nhiên.

       Vốn từng là sinh viên ngành vật lý học ở Hà Nội khi còn trai trẻ, ông Thưởng tìm hiểu nguyên nhân. Cuối cùng ông phát hiện thì ra bấy lâu nay để kiếm thêm thu nhập ông đã trồng xen canh cam, quýt và chanh trong vườn dừa. Trong quá trình bón phân cho các loài cây này, cây dừa đã “ăn theo” phân mà phát triển. Quy luật bón phân này hoàn toàn trái ngược với tập tục trồng dừa bên mương rồi bỏ mặc cây tự lớn tồn tại hàng trăm năm ở đây. Từ đó mỗi lần chăm sóc vườn, ông Thưởng lại tỉ mẩn ghi chép nhật ký, theo dõi cây để bón phân phù hợp. Theo ông Thưởng, cây dừa nếu bón phân có nhiều clo cây sẽ bị điếc trái.

       Không chỉ tìm ra quy luật phân bón, lão nông Đỗ Thành Thưởng còn dốc công tìm hiểu vì sao dừa Giồng Trôm thơm ngon nhất nước. Ông giải thích: “Vì vùng này mỗi năm có ba tháng nước mặn từ biển vô gây lợ nước trồng. Năm nào mặn quá thì trái nhỏ, nước ngọt quá thì trái lại bình thường. Nước lợ thì lượng dầu trong cơm dừa, các loại vi chất và độ ngọt của nước dừa cũng tốt hơn. Vì vậy hệ thống mương cũng cần được theo dõi để dung hòa…”.

       Những may mắn lại tiếp tục đến với ông khi trong quá trình trồng những giống mới từ các nhà khoa học cung cấp, vô tình thiên nhiên lại tạo ra cho ông thêm nhiều loài dừa chất lượng. Chỉ tay vào những cây dừa núm trái to hơn bình thường, sản lượng 140 trái/cây/năm, ông cho biết do côn trùng thụ phấn nhiều cây với nhau nên trái tự nhiên tốt hơn. Một trong những lần vô tình đó đã đưa một sản phẩm dừa vườn nhà ông để thế giới biết đến. Đó là loài dừa dứa, có nước ngọt, béo và thơm mùi đặc trưng như nước lá dứa. Đến nay những giống dừa này ngoài việc cung ứng thị trường nội địa (giá bán 10.000 đồng/trái tại vườn) đã được ông xuất đi thị trường châu Á và cả châu Âu tuy sản lượng còn khiêm tốn.

        Từ thành công của ông, nhiều hộ dân bắt đầu trồng lại dừa có cải thiện chất lượng giống nên những vườn dừa đạt 50-80 triệu đồng/ha mỗi năm không còn là chuyện lạ.

Đau đáu với tương lai của… dừa

Năm 1999, lão nông Đỗ Thành Thưởng đã có trong tay hơn 20 giống dừa quý. Ngoài công việc phát triển kinh tế với thu nhập hơn 150 triệu đồng/năm, ông cũng đã bảo tồn thành công nhiều giống dừa địa phương. Thành tích đó đã đưa tên tuổi của ông ra khỏi ranh giới Việt Nam mà cụ thể là giải thưởng Người trồng dừa giỏi nhất Việt Nam và tiếp theo là danh hiệu Cây cuộc sống do tổ chức Hiệp hội Dừa châu Á-Thái Bình Dương trao tặng.

        Nhiều địa phương trong cả nước đã cử người tìm đến tận nhà ông để học hỏi kinh nghiệm. Nhiều tổ chức, hội đoàn cũng mời ông đi khắp nơi để nói chuyện về kinh nghiệm trồng dừa phát triển kinh tế. Mỗi lần như thế, ông đều tận tâm giảng giải, bộc bạch hết những gì mình biết, tuyệt đối không giấu.

        Cả một đời gắn bó với cây dừa chưa bao giờ ông tự cho phép mình ngơi nghỉ dù chỉ một ngày.

       Hiện nay lão nông này đã lắp đặt máy tính có kết nối Internet tốc độ cao để liên tục cập nhật thông tin về cây dừa. Ông còn nhập một hệ thống máy ép dầu dừa để chế biến mỹ phẩm và dược phẩm. Ông Thưởng cho biết ở Mỹ, người ta bán một lọ dầu dừa 100 ml mùi rất thơm có giá 150 USD. “Về kỹ thuật thì tôi đã nắm được, vấn đề bây giờ là đầu tư công nghệ ép dầu này và tìm hiểu thị trường nước hoa từ cây dừa thế nào. Nếu thử nghiệm thành công, tôi tin cây dừa Bến Tre sẽ tiếp tục vươn tầm xa hơn nữa. Tôi còn một ước mơ nữa, đó là thực hiện một bảo tàng dừa để du khách tham quan và thế hệ sau hiểu hơn về đời sống dừa ở Bến Tre”. Ông nói rồi chỉ tay ra vườn dừa xanh um, đôi mắt ánh lên niềm tin.

                                            THANH NHÃ

                                                    Nguồn: http://phapluattp.vn

 Bài 2: Bà ngoại leo dừa

Chị là nhân vật chính trong bộ phim Bà ngoại leo dừa từng nhận giải Cánh diều bạc 2009. Cái nghèo đã đẩy chị đến với cái nghề leo dừa thuê vốn chỉ dành cho đàn ông và mãi không thoát ra được.

       Giang. Nhà nghèo, chữ nghĩa ít, cái thứ hạng lần sinh được cha chị đặt cụ thể thành tên: Nguyễn Thị Mười Hai.

       Cái nghề leo dừa coi nguy hiểm vậy nhưng nhờ nó mà chị đã nuôi mẹ, nuôi con, rồi chăm lo luôn cho mấy đứa cháu ngoại.

Bà Mười Hai đang leo dừa

       Nghịch ngợm rồi thành… nghề

      Thời chị còn nhỏ, vùng Châu Thành bạt ngàn dừa. 12 tuổi, chị Mười Hai theo chân đám con trai trong xóm tập leo chơi. Trong những lần thi thố leo cây, chị luôn thắng cuộc. Và chẳng ai ngờ trò chơi thuở bé lại trở thành cái nghề bám riết người phụ nữ 49 tuổi này như một định số.

      Thấy mẹ lam lũ làm mướn mà vẫn không đủ nuôi con, trong khi đó việc thu hoạch dừa, làm vệ sinh cây dừa trong xã luôn thiếu lao động, chị đánh liều lén mẹ đi leo dừa thuê kiếm thêm tiền. Ban đầu mẹ chị còn rầy la, song cũng vì cái ăn đeo đuổi tận lưng nên riết rồi bà cũng đành phó mặc. “Mấy năm sau, mẹ tui già yếu, mình tui cáng đáng việc nhà và leo dừa nuôi mẹ. Phận leo dừa không dám mơ ước xa xôi nên bạn bè trang lứa lấy chồng sớm thì tui đến 24 tuổi mới lấy chồng, tạm xa cây dừa” – chị cười hồn hậu tâm sự.

      Chồng chị, anh Bùi Văn Lợi, cũng sống bằng nghề làm thuê, làm mướn nên sau khi những đứa con ra đời, cuộc sống mỗi lúc lại thêm khó khăn. Loay hoay mãi với kế sinh nhai, một bữa chị bạo dạn ngỏ ý quay lại nghề leo dừa của mình với chồng. Anh mắt tròn, mắt dẹt ngạc nhiên. Mà sao không ngỡ ngàng được khi anh là dân gốc Bến Tre lại không biết leo dừa, còn vợ anh cứ khăng khăng có thể sống bằng nghề này. Anh chưa kịp phản ứng, chị quả quyết: “Tui tính rồi, xứ này dừa nhiều, mình chịu khó hái thuê thì tiền công cũng đủ sống. Tui leo cây, bẻ trái, cột dây đưa xuống, ông đứng dưới đỡ quầy dừa. Vợ chồng chung lòng thế nào cũng ổn”. Bàn bữa trước, bữa sau chị lân la tìm tới những mối chủ dừa ngày trước để liên hệ leo thuê. Từ đó, dân trong huyện mỗi lần muốn thu hoạch dừa lại tìm đến chị.

      Sau một thời gian dành dụm được chút vốn, chị năng động nghĩ đến việc vừa leo dừa thuê, vừa mua dừa giá sỉ tại vườn bán lại kiếm lời. Chỉ tay lên mái tôn mới lợp ở nhà mình, chị khoe: “Hết 5 triệu đồng, may có nghề leo dừa mà cái nhà đỡ xiêu vẹo. Ráng kiếm thêm chút tiền nữa dán lá lại cái vách hai chục năm để mùa mưa khỏi tạt. Hôm rồi xã đến lấy lại sổ hộ nghèo rồi!”. Câu nói của chị như bày tỏ thái độ không muốn làm gánh nặng cho xã hội khi mình còn đôi tay…

25 năm leo dừa

     Hơn một phần tư thế kỷ sống với nghề leo dừa, chị thuộc nằm lòng từng thân cây, bẹ lá. Trong đó có những cây dừa lão còn lớn hơn tuổi chị. Quen thuộc là vậy nhưng lúc nào trên cây cao chị cũng đối diện với hiểm nguy. Ký ức về những trận té dừa in đậm trong trí nhớ chị như những nỗi kinh hoàng.

     Chị nhớ lại năm 1986, trong xã có người nhờ leo thu hoạch hết vườn dừa khoảng một công đất. Đếm số cây, chị nhẩm tính quy ra tiền cũng đủ mua gạo, đi chợ cho cả nhà nhiều ngày và bồi dưỡng thêm cho cái thai sáu tháng chị đang mang. Chị xoa bụng, đánh liều lén chồng đi leo.

     Những thân dừa cao hơn 10 m thoáng chốc trở thành mối nguy hiểm rình rập, chị cắn răng leo vì không muốn bị mất mối ngon. Lên đến nửa cây, mắt chị hoa đi. Sau khoảnh khắc trượt chân chị rơi từ trên cao xuống đất. Mọi người hốt hoảng đưa chị vào trạm xá. “Đêm đó tui khóc dữ lắm! Mình có mệnh hệ gì không sao, chỉ ân hận và thương con. May mà ba tháng sau con gái tui vẫn khỏe mạnh ra đời. Nhờ vậy mà bây giờ mới có cháu ngoại” – chị cười hồn nhiên.

      Kiếm tiền với bất cứ nghề nghiệp lương thiện nào cũng vất vả, kiếm cơm với nghề leo dừa còn lắm gian nan. Những ngày nắng, trân mình với nóng đã đành, ngày mưa thân cây trơn trượt chị cũng phải gồng mình leo. Một lần chị đang hái dừa trên cây thì mưa tới. Vốn quen với việc dầm mưa hái trái nên chị xem bình thường. Nhưng hôm đó có một bất thường. Cây dừa chị leo gần đường dây điện cao thế. Lá dừa ướt nước, bị gió thổi phất phơ nhanh chóng bắt điện. Tia điện với hiệu điện thế cao đánh lửa rồi quăng chị từ ngọn dừa xuống đất, cháy sém tóc. Một lần nữa chị thoát chết!

      Lần khác, chị đang leo dừa thì bị đau bụng dữ dội. Nhưng nhẩm tính số lượng cây với tiền công hái trái (5.000 đồng/cây) thì số tiền thu được vẫn chưa đủ tiền ăn cho cả nhà ngày hôm đó. Vậy là chị ráng leo thêm, đến khi được hơn 50 cây dừa thì chị phải vào bệnh viện để cấp cứu. Bác sĩ chẩn đoán rồi nhanh chóng đưa chị vào phòng mổ: “Chậm một chút nữa là chết, chị bị viêm ruột thừa”. Nằm nhà nửa tháng với vết thương mới mổ, lại thiếu trước hụt sau, chị buồn và nhớ những cây dừa. “Ông xã tui thuê người vô vườn hái dừa bán, tui thấy mấy ông leo dừa nhớ nghề quá nên nhảy ra leo luôn” – chị nói. Vậy là vết thương ruột thừa cùng với những vết chai sần vì nghề leo cây đã trở thành một phần thân thể chị.

      Ngoài những nguy hiểm kể trên, lúc nào trên cây dừa chị cũng phải đối mặt với rắn lục, kiến vàng. Cách đây mấy hôm chị bị hai con kiến vàng chui vào tai cắn, phải nhờ thợ hớt tóc lấy ra.

Đệ nhất leo dừa vẫn… nghèo

     Sẽ thật không ngoa khi nói chị là đệ nhất leo dừa ở xã Thạnh Phú. Bởi lẽ ngoài 25 năm sống với nghề leo dừa chuyên nghiệp, hiện tại chị là người leo dừa duy nhất của xã. Không chỉ có thế, nhờ leo dừa chị còn trở thành người nổi tiếng. Sự nổi tiếng của chị vang tới… nước Mỹ bên kia bán cầu.

     Ngày 13-11-2009, phim tài liệu Bà ngoại leo dừa mà chị là nhân vật chính đã đưa đạo diễn Đỗ Thành An lãnh giải Cánh diều bạc dành cho phim ngắn. Sau khi phim phát sóng, nhiều người biết hoàn cảnh của chị tìm đến đề nghị được giúp đỡ. Có người ở tận Bạc Liêu, Vũng Tàu thuê xe chạy đến tận nơi gặp chị để trò chuyện.

     Quần quật như thế nhưng bệnh tật không dám đụng đến chị. Chị hồn nhiên khoe trong ngày 8-3, chị chạy việt dã cấp huyện và đoạt giải nhì.

     “Cả nhà tui làm ngày nào ăn ngày đó nên rất sợ bệnh tật. Có sức khỏe là làm được mọi việc! Nỗi lo bây giờ là sắp tới mùa mưa mà hàng cột và vách đã mục nát hết rồi, chỉ sợ mưa tạt, lạnh mấy đứa cháu ngoại hoặc nhà sập chưa đủ tiền thay”. Kết thúc câu nói bao giờ trên mặt chị cũng là một nụ cười dung dị, hiền hậu.

     Tạm biệt chị, bất giác chúng tôi liên tưởng chị như những cây dừa luôn rắn rỏi và mạnh mẽ ngay cả trên vùng đất cằn cỗi.

THANH NHÃ

                                                    Nguồn: http://phapluattp.vn

Bài 3: Săn chuột dừa liên tỉnh

Thịt chuột dừa trở thành món đặc sản khoái khẩu, nghề bắt chuột cũng rủng rỉnh tiền.

      12 giờ trưa, rẽ vào chợ xã Phú Túc (huyện Châu Thành, Bến Tre), theo con đường rợp mát bóng dừa chúng tôi đi thẳng ra bờ sông Ba Lai. Hai chiếc xuồng máy của đôi vợ chồng bắt chuột chuyên nghiệp vẫn còn cắm sào nằm chờ nước lớn để xuôi dòng tiếp tục cuộc mưu sinh. Chiếc lồng sắt trên mui ghe của họ chứa khoảng 60 con chuột, là sản phẩm sau một đêm đặt bẫy.

   Ăn không hết thì bán

     Anh Hai Nhỏ (Nguyễn Văn Hai) ngụ xã Quới Thành (Châu Thành) khoe tối hôm qua thắng lớn, bắt được khoảng 6 kg chuột. Có hai con chuột cống nhum to gần bằng bắp tay. Tám chú chuột mập ú được anh làm thịt ngay bên mạn ghe. Chúng tôi gửi xâu thịt chuột lên bờ, nhờ một người quen chiên nước mắm, chờ xong việc nhấm nháp với bia thưởng thức hương vị của món ăn đặc sản nổi tiếng xứ dừa.

      … Hai Nhỏ kể anh làm nghề này đã hơn 10 năm. Ban đầu vừa làm vườn vừa bẫy chuột kiếm thức ăn cải thiện cuộc sống gia đình. Dần dà bà con trong xóm tìm đến hỏi mua. “Chuột phá vườn dừa và sinh sản rất nhanh, bẫy được ngày càng nhiều, ăn không hết thì bán vậy” – Hai Nhỏ nói. Khi thịt chuột đã trở thành hàng hóa, thấy mần ăn được, anh chọn và theo đuổi nghề luôn.

      Dù là nghề phụ nhưng khoản thu nhập theo thời gian cứ nâng dần, cuốn hút anh trở thành thợ bắt chuột chuyên nghiệp từ lúc nào không hay. Vợ chồng Hai Nhỏ có 6.000 m2 đất trồng cây ăn trái. Họ cũng trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi nghề, như trồng mía, làm nhà che ép mía nấu đường… đến khi định hình được khu vườn chuyên canh, trồng rặt một loại cây chôm chôm, anh chị có thể yên tâm sống một lúc hai nghề…

Nghề ít đụng hàng

     Những tháng bận chăm sóc và thu hoạch trái cây thì nghề bẫy chuột tạm gác lại. Khi vườn chôm chôm đã cắt bán hết trái, rải phân… siết nước xong, họ lại nhảy xuống sông lênh đênh suốt ngày đêm tìm chuột để bán. Trong xóm cũng có vài người bạn làm nghề bắt chuột dừa nhưng cánh bạn của anh chỉ làm văn nghệ – săn mồi nhậu. Hoặc thỉnh thoảng rảnh việc, họ đi gài bẫy bắt chuột mướn cho các chủ vườn, làm vài hôm rồi chuyển sang công việc khác.

     Riêng Hai Nhỏ quyết định sắm xuồng máy, chuyển vùng đi bẫy chuột xa tận miệt Vũng Liêm, Long Hồ (Vĩnh Long), Cai Lậy, Châu Thành (Tiền Giang). Mỗi chuyến đi thường kéo dài ba ngày ba đêm. Họ mang theo 100 chiếc bẫy tự chế và mấy chiếc lồng sắt rọng chuột. Những chú chuột bắt được trong khoảng thời gian đi xa, để chúng không bị ốm (sụt giảm trọng lượng), anh cho chúng ăn củ sắn và uống nước đều đặn mỗi ngày.

     Hai Nhỏ cho biết: Các quán nhậu thu mua chuột dừa đặc sản giá 40.000 đồng/kg chuột hơi. Có được khoản thu nhập khá từ nghề này, cuộc sống gia đình anh cũng dễ thở hơn. Ước tính một chuyến đi ba ngày, mấy chiếc lồng sắt chứa đầy chuột mang về bán cho thương lái ít cũng 500.000-600.000 đồng. Tháng đi bẫy 20 ngày đêm, anh chị có trong tay khoản thu nhập cầm chắc hơn 3 triệu đồng.

     Chị Thu Ba, vợ anh, làm “trợ lý” cho chồng từ chuyện cơm nước, giặt giũ, vô mồi từng chiếc bẫy chuột đến chuyện chăm sóc những chú chuột bị nhốt trong lồng sắt. Đi gài bẫy chuột ở các xã lân cận trong huyện, nếu thuận tiện về đường bộ, anh chị thông báo cho các con địa điểm ghe neo đậu. Sáng sớm con trai của anh sẽ tìm đến, chở số chuột vừa bắt được trong đêm về bỏ mối cho các quán.

     Mỗi chuyến đi Hai Nhỏ còn mang theo những chiếc ống trúm, mồi nhử để bắt lươn trong mương vườn. Hai, ba ký lươn “chiến lợi phẩm” theo về nhà, mang ra chợ bán cũng bỏ túi thêm vài ba trăm ngàn đồng. Trong nhà anh hầu như bất cứ lúc nào cũng có hai loại đặc sản lươn và chuột dừa rọng sẵn. Ai có đám tiệc, chỉ cần báo trước số lượng đặc sản cần mua là có ngay.

Mưa nắng trên sông

    Từ 13 giờ, vợ chồng Hai Nhỏ đã bắt đầu công việc vô mồi. Họ gắn những miếng cơm dừa đã được cắt thành từng mảnh nhỏ cỡ ngón tay cái vào móc bẫy. Xong việc, vợ anh lo cơm nước trên chiếc xuồng chính, anh điều khiển chiếc xuồng máy phụ chạy dọc sông, rồi leo lên bờ len lỏi vào sâu trong vườn chọn điểm đặt bẫy. Thường bẫy được đặt ở những đọt dừa tơ cao quá đầu người hoặc chọn luồng chuột đi kiếm ăn dọc theo mép kênh, mương, trong những bụi rậm…

Thịt chuột dừa săn chắc và thơm ngon hơn thịt chuột đồng vì rất ít mỡ. Có thể chế biến loại đặc sản này thành nhiều món ăn hấp dẫn thực khách như: chuột khìa với nước dừa, chiên xả ớt, nướng mọi, kho khô tiêu… Ra đến quán nhậu, giá bán mỗi con chuột dừa sau khi đã chế biến tăng lên gấp bốn lần (15.000-20.000 đồng/con). 

       Để chọn được nơi chắc chắn có chuột, thường phải càn lùm, nhảy mương, thậm chí leo trèo, cây cỏ cắt xước tóe máu cả chân tay, ong, kiến vây quanh… Cũng không ít lần anh bị mất bẫy vì mấy đứa trẻ nghịch ngợm theo dõi, chúng canh me đi bắt chuột và “tịch thu” mấy chiếc bẫy sớm hơn anh (từ lúc trời chưa kịp sáng). Mất chuột, mất luôn bẫy nên thỉnh thoảng anh phải dành thời gian “sản xuất” bổ sung lại cho đủ số 100 chiếc.

       Thoạt nghe kể về nghề săn chuột dừa, ai cũng tưởng dễ ăn, thật ra làm nghề này cũng mưa nắng thất thường. Những đêm trời sáng trăng hoặc mưa dầm… thường thất bát, do chuột ít đi kiếm ăn. Có đủ nước uống nên chúng ở lì trên cây, không xuống đất. Vào cao điểm mùa mưa, nghề đi đặt bẫy lùm đón luồng mấy chú chuột từ trên những đọt dừa cao ngút mắt xuống đất kiếm ăn, uống nước xem như phải tạm gián đoạn.

       Theo lời Hai Nhỏ, gặp chủ vườn dừa quyết tâm diệt chuột bảo vệ vườn cây, họ thuê mình gài bẫy thì trúng mánh. Mỗi chú chuột bắt được chủ vườn trả công 4.000 đồng, mình lấy chuột mang về bán, thu nhập sẽ tăng gấp đôi. Nhưng cũng có chủ vườn không muốn cho người lạ vô vườn, vì sợ bị phá tán cây trái, hay dò đường chuẩn bị đi trộm những thứ khác…

      Bà con cẩn trọng, giữ cho tình hình an ninh tự quản trong xóm ấp được thắt chặt, mình cũng chẳng buồn trách họ. Vậy là đành phải cầm mấy chiếc bẫy lồng lủi thủi trở ra bờ sông, xuống xuồng tìm nơi khác hành nghề! 

      Không vì mê săn tìm chuột dừa mà Hai Nhỏ bỏ bê vườn cây ăn trái thất bát. Ngược lại, vườn chôm chôm của anh luôn cho trái sai, bán được giá. Sau khi trừ xong mọi chi phí, 6.000 m2 đất vườn cho khoản lãi trung bình 30 triệu đồng/vụ. Mùa năm ngoái (2009), nhờ chuyển vụ cho chôm chôm ra trái nghịch, Hai Nhỏ thu lãi trên 70 triệu đồng.

      Với nghề bẫy chuột, bắt lươn xuyên tỉnh lang bạt trên các nhánh sông cũng mang về một nguồn thu nhập phụ đáng kể, ước tính không dưới hàng chục triệu đồng mỗi năm. Nghề này chắc chắn sẽ còn gắn bó lâu dài với vợ chồng anh, đơn giản vì theo anh: “Nguồn chuột ngoài tự nhiên nhiều vô kể. Chuột sinh sôi nhanh và phá hoại nghiêm trọng, các chủ vườn cũng rất cần mình”. 

     … Những khoản thu nhập vừa nêu tuy còn rất khiêm tốn so với nhiều đại gia trồng vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long song vợ chồng Hai Nhỏ và bốn đứa con của họ đã có của ăn của để, không phải đi làm thuê. Từ 4.000 mđất cha mẹ cho buổi đầu ra riêng, tiện tặn tích lũy dần họ đã sắm thêm được hơn 3.000 m2 đất thổ cư và đất trồng vườn…

TÂM PHÚC

 Nguồn: http://phapluattp.vn

Bài 4: Một đời người, một rừng dừa

Ông gắn bó gần như trọn cuộc đời với cây dừa. Lắm lúc sản phẩm bán rẻ như cho nhưng ông vẫn không chút nao lòng.

       80 tuổi, ông Nguyễn Văn Tư (quen gọi Tư Thợ Bạc) ngụ xã Tân Phú, huyện Châu Thành (Bến Tre) còn khá rắn rỏi. Khi lái xe Honda, lúc đi xe đạp, khỏe trong người thì lội bộ gần 1,5 km để thăm vườn. Đều đặn mỗi ngày, 6 giờ sáng ông đã lên vườn, 11 giờ về nhà nghỉ trưa. Buổi chiều ông ở ngoài vườn dừa đến khi trời tối mịt mới quay về phố chợ.

      Tuổi thơ lang bạt

        Quê nội của ông ở Vĩnh Kim (Châu Thành, Tiền Giang), cha ông làm nghề thợ bạc, lang thang khắp xứ để mưu sinh, sau này trở về quê Tiền Giang tiếp tục làm nghề, cuộc sống cũng lắm khó khăn. Những năm 1940 của thế kỷ trước, gia đình ông về quê ngoại ở xã Phú Đức, rồi chuyển lên xã Tân Phú (Châu Thành, Bến Tre) định cư.

       Năm 20 tuổi, ông Tư Thợ Bạc lập gia đình với một thôn nữ cùng xã. Đôi vợ chồng trẻ nhà quê, ít chữ nhưng giỏi nghề nông và nổi tiếng chịu khó. Họ bắt đầu cuộc sống tự lập chỉ với đôi bàn tay trắng. Từ làm thuê đến mướn đất của địa chủ làm lúa, rồi dành dụm mua lại đất canh tác. Cật lực trong vòng gần chục năm, vợ chồng ông mua được 2 ha đất để trồng lúa, chỉ một năm sau ông đã lên liếp lập vườn trồng cây ăn trái.

       Thời ấy, trên vùng đất phù sa màu mỡ của nhánh sông Hàm Luông quanh năm đầy ắp nước ngọt, có lẽ ông là một trong những người đầu tiên ý thức lập vườn. Giờ đây, miệt vườn này cây cối đã phủ xanh ngút mắt. Ngoài nghề vườn, trước đó ông Tư còn làm nghề thợ bạc tại chợ xã. Những lúc khó khăn nhất của nghề nông, nghề thợ bạc là nguồn nuôi sống cả nhà.

       Giai đoạn khởi đầu làm nghề vườn, vợ chồng ông trồng sầu riêng, mãng cầu, cau xanh ăn trầu, dưới mương thả rau nhút. “Cả bốn thứ này thời đó đều bán có giá, thu huê lợi thiệt thấy ham” – ông Tư kể. Vợ ông cắt rau nhút gánh ra chợ bán mỗi buổi sáng, dư cả tiền mua gạo, thức ăn. Nguồn thu từ vườn cây và nghề thợ bạc của ông cũng bắt đầu đẻ ra thêm đất. Từ 2 ha nâng lên 4 ha, cho đến hôm nay gia đình ông có gần 7 ha, cùng nhiều căn nhà phố tại chợ xã Tân Phú và trung tâm thành phố Bến Tre…

Mơ về một rừng dừa

        Năm 1972, khi vườn sầu riêng già cỗi, ông chuyển sang trồng dừa. Từ rất lâu, ông có mong ước được sở hữu một rừng dừa xum xuê bạt ngàn. Theo ông: “Chỉ có cây dừa mới gắn bó bền lâu với mình. Tuổi càng về già, trồng dừa nhẹ lo hơn các loài cây ăn trái khác vì không phải tốn nhiều công sức chăm sóc”. Hai lô đất rộng hơn 4 ha tại ấp Tân Bắc và Tân Nam của ông hiện có gần 500 gốc dừa. Tính đến nay, vườn dừa đã song hành cùng ông ngót hơn 38 năm. Còn lại là diện tích đất cồn ven sông, trồng cây ăn trái.

       Đứng trước rừng dừa cao ngất, trái sai oằn đong đưa theo gió, ông cười đôn hậu: “Bà nhà tui đã mất mấy năm qua. Tuổi già cô đơn, giờ tui chỉ có rừng dừa này là bạn. Một ngày không đi thăm vườn, sống khép mình trong căn phố ngột ngạt, cảm giác buồn và thiếu vắng một cái gì đó rất khó tả”.

       Ông Tư làm vườn thuộc hàng bài bản. Để nâng thu nhập của vườn dừa, hai bên liếp cặp mé mương ông trồng dừa theo khoảng cách nanh sấu, xen kẽ với cây bòn bon. Giữa liếp ông trồng thêm một hàng măng cụt thẳng tắp. Măng cụt và bòn bon trong vườn dừa cũng có tuổi xấp xỉ với cây dừa (30 năm). Hai loại cây trồng xen này cho thu nhập tương đương với tổng thu của cây dừa (năm thất mùa thì bằng phân nửa). Ông trầm ngâm, tính toán thật chi ly để khẳng định vị thế của cây dừa Bến Tre đối với đời sống người nông dân. Cây dừa không bỏ một thứ gì từ lá, thân, trái, thậm chí ngoài cơm dừa, vỏ và gáo dừa cũng hái ra đôla.

       Chúng tôi đến tham quan một lô vườn dừa rộng 2 ha của ông, dù đang mùa nghịch nhưng cũng thu hoạch bán cho thương lái được 3.500 trái/đợt. Ông ước tính 4 ha thu hoạch mỗi đợt cách nhau 1,5 tháng, được khoảng 8.000 trái. Một năm thu hoạch tám đợt không dưới 60.000 trái. Giá dừa khi trồi khi sụt, tính bình quân cây dừa cho ông thu nhập trên 45 triệu đồng/ha. Cộng gộp thêm hai nguồn thu từ huê lợi cây bòn bon và măng cụt trồng xen, mỗi hecta vườn dừa của ông Tư Thợ Bạc luôn đạt khoản doanh thu hằng năm 60-80 triệu đồng.

        Theo ông Nguyễn Văn Tài, Chủ tịch UBND xã Tân Phú, có giai đoạn bà con trong xã rủ nhau đến vườn của ông Tư để chọn mua dừa giống về trồng. Đây cũng chỉ là giống dừa địa phương nhưng nhờ ông Tư cần cù chăm sóc cây cho trái sớm, trái rất sai. Tấm gương chí thú lao động, biết tiết kiệm để làm nên của cải, sống chan hòa vì tình làng nghĩa xóm của ông Tư còn là hình mẫu để người dân trong xã giáo dục con cái học tập noi theo. Vào những năm khó khăn nhất của nghề trồng dừa, hàng loạt diện tích dừa bị đốn hạ để chuyển sang trồng loài cây ăn trái khác, riêng ông Tư vẫn bền chí. Và ông đã thành công khi chọn mô hình trồng xen dừa với cây ăn trái đặc sản nhằm nâng cao thu nhập, cố duy trì cây dừa.

       Tài sản cho con

       Nhìn dáng ông nhỏ nhắn vác chiếc gàu tưới cây đi dưới cái nắng nóng mới hiểu ông yêu quý cây trái như thế nào. Vạch từng tán lá măng cụt xem chúng đang kết trái chật kín các đầu đọt, ông nói: “Năm nay măng cụt trúng mùa. Dừa cũng bước vào đợt ra trái non cho vụ thuận. Loay hoay bòn bon sẽ đâm bông. Mình chỉ việc chăm sóc phân, nước là lượm tiền”.

        … Ông mời chúng tôi tô hủ tiếu, ngồi ăn cầm khách chứ bản thân ông ăn không hết nửa tô. “Già rồi, vẫn cứ đam mê cái nghiệp, ham làm chứ ăn uống, xài tiền chẳng bao nhiêu. Dành dụm cho các con là chính”. Hiện nay, tài sản vợ chồng ông gầy dựng sau hơn 50 năm đã được ông chia cho các con mỗi người 1-2 ha. Phần ông giữ lại phần cậu con trai út hiện là bác sĩ đang công tác tại TP.HCM khoảng 2 ha, huê lợi hằng tháng cứ cho vào tủ sắt để khi nào con cần thì về lấy…

       Có một điều buồn: tuổi xế bóng nhưng ông già cặm cụi, cực nhọc cả đời vẫn tiếp tục sống khổ tâm! Do trong số những người con của ông có đứa so bì tài sản, nặng nhẹ chì chiết khiến ông rất đau lòng. “Nhiều đêm sống một mình trong căn nhà vắng lạnh, nghĩ về con… nhớ đến cả đời người đã trải qua, tôi không thể nào nhắm mắt ngủ yên được!” – ông tâm sự…

Tỉnh Bến Tre hiện có trên 45.600 ha đất trồng dừa, tập trung tại bốn huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành và Bình Đại, sản lượng thu hoạch hơn 312 triệu trái/năm. Ngoài xuất khẩu dừa trái còn có các mặt hàng chế biến từ dừa tham gia xuất khẩu và tiêu thụ nội địa như cơm dừa nạo sấy, kẹo dừa, dầu dừa thô, chỉ xơ dừa, mụn dừa, dệt thảm và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ… Cây dừa gắn bó với đại bộ phận nông dân trên đất Bến Tre nhưng hiện tại thu nhập của người dân trồng dừa vẫn còn rất thấp. Tỉnh này đã tổ chức nhiều hội thảo xúc tiến đầu tư nhằm nâng cao chuỗi giá trị của cây dừa, nâng cao đời sống người trồng dừa. Trước mắt phát huy mô hình xen canh cây ăn trái hợp lý dưới tán dừa, đẩy mạnh hoạt động thu mua, chế biến xuất khẩu… Gần đây tỉnh Bến Tre chú trọng khai thác mô hình du lịch sinh thái kết hợp với các vườn dừa trên đất cù lao, cồn bãi. Đặc biệt khai thác thế mạnh từ nghề trồng dừa xiêm uống nước, nuôi ong mật, sản xuất các sản phẩm mỹ nghệ, góp phần giải quyết việc làm cho khá đông lao động tại nông thôn.


TÂM PHÚC

 Nguồn: http://phapluattp.vn